Chuyển đến nội dung chính

11 Khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam được Unesco công nhận

Ngày 3/11 hằng năm được UNESCO chọn là Ngày Quốc tế về Khu dự trữ Sinh quyển nhằm thúc đẩy bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững trên toàn cầu.

Hiện nay, Việt Nam có một hệ thống gồm 11 Khu dự trữ Sinh quyển Thế giới được UNESCO công nhận. Đây là danh hiệu UNESCO trao tặng cho các khu vực có giá trị đặc biệt về thiên nhiên và đa dạng sinh học.


Khu dự trữ sinh quyển thế giới

Khu dự trữ sinh quyển thế giới là một danh hiệu do UNESCO trao tặng cho các khu bảo tồn thiên nhiên có hệ động thực vật độc đáo, phong phú đa dạng. Theo định nghĩa của UNESCO, Khu dự trữ sinh quyển thế giới là những khu vực hệ sinh thái bờ biển hoặc trên cạn giúp thúc đẩy các giải pháp điều hòa việc bảo tồn sự đa dạng sinh học với việc phát triển bền vững khu vực đó có giá trị nổi bật, được quốc tế công nhận.

Tham khảo chi tiết: https://www.unescoviet.org/2025/08/khu-du-tru-sinh-quyen-gioi.html

Các tiêu chí

7 tiêu chí để trở thành khu dự trữ sinh quyển thế giới (Theo quy định của Điều 4, Khung Pháp lý của Mạng lưới toàn cầu các Khu DTSQ thế giới được thông qua tại Đại hội đồng UNESCO năm 1995[2]) là:

  1. Khu vực đề cử có đại diện đa dạng các hệ sinh thái của những khu vực địa lý sinh vật chính, bao gồm cả những khu vực phát triển có các mức độ tác động khác nhau (gradiation) của con người.
  2. Khu vực đề cử có giá trị bảo tồn đa dạng sinh học cao.
  3. Khu dự trữ sinh quyển đó có thể thực hiện phát triển theo hướng bền vững ở cấp độ vùng.
  4. Khu dự trữ sinh quyển có diện tích thích hợp để đáp ứng được ba chức năng của khu dự trữ sinh quyển.
  5. Khu vực đó có đủ những phân vùng thích hợp để thực hiện 3 chức năng của khu dự trữ sinh quyển thông qua: (a) vùng lõi có diện tích đủ lớn, được thiết lập bởi pháp luật, hoặc một vùng được dành riêng cho việc bảo tồn lâu dài; (b) vùng đệm được xác định rõ ràng, bao quanh hoặc kết nối với (các) vùng lõi, nơi dành cho các hoạt động hài hòa với bảo tồn; (c) vùng chuyển tiếp dành cho việc khuyến khích và tạo ra các hoạt động quản lý và sử dụng tài nguyên bền vững.
  6. Có bố trí các cơ cấu quản lý để huy động sự tham gia của nhiều bên liên quan, giữa chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư và khối tư nhân để thiết kế và thực hiện các chức năng của khu dự trữ sinh quyển.
  7. Cơ chế thực hiện việc quản lý và bảo tồn được UNESCO chấp nhận, bao gồm: (a) các cơ chế quản lý các hoạt động và khai thác của con người tại vùng đệm; (b) có một chính sách hoặc kế hoạch quản lý cho toàn khu dự trữ sinh quyển; (c) có một cơ chế hoặc đội ngũ quản lý được thành lập để thực hiện chính sách hoặc kế hoạch đó; (d) có các chương trình nghiên cứu, quan trắc, giáo dục và đào tạo.

Việt Nam được Ủy ban Sinh quyển và Con người thuộc UNESCO công nhận 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới gồm:

1/ Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, 2000. Ranh giới thuộc Cần Giờ, (Tp HCM).

Link chi tiết: https://www.unescoviet.org/2025/08/khu-du-tru-sinh-quyen-rung-ngap-man-can.html

2/ Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà, 2004. Ranh giới thuộc huyện đảo Cát Bà (Hải Phòng)

Link chi tiết: https://www.unescoviet.org/2025/08/khu-du-tru-sinh-quyen-cat-ba-nam-2004.html

3/ Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng, 2004. Ranh giới 5 vùng cửa sông của 2 tỉnh Hưng Yên và Ninh Bình.

Link chi tiết: https://www.unescoviet.org/2025/08/khu-du-tru-sinh-quyen-chau-tho-song.html

4/ Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang, 2006. Ranh giới thuộc tỉnh An Giang.

Link chi tiết: https://www.unescoviet.org/2025/08/khu-du-tru-sinh-quyen-ven-bien-va-bien.html

5/ Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An, 2007. Ranh giới thuộc tỉnh Nghệ An.

Link chi tiết: https://www.unescoviet.org/2025/08/khu-du-tru-sinh-quyen-mien-tay-nghe-nam.html

6/ Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau, 2009. Ranh giới thuộc tỉnh Cà Mau.

Link chi tiết: https://www.unescoviet.org/2025/08/khu-du-tru-sinh-quyen-mui-ca-mau-nam.html

7/ Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm, 2009. Ranh giới thuộc tỉnh Quảng Nam.

Link chi tiết: https://www.unescoviet.org/2025/08/khu-du-tru-sinh-quyen-cu-lao-cham-nam.html

8/ Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai, 2011. Ranh giới thuộc 3 tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Thành phố Hồ Chí Minh.

Link chi tiết: https://www.unescoviet.org/2025/08/khu-du-tru-sinh-quyen-ong-nai-nam-2011.html

9/ Khu dự trữ sinh quyển Langbian, 2015. Ranh giới thuộc tỉnh Lâm Đồng.

Link chi tiết: https://www.unescoviet.org/2025/08/khu-du-tru-sinh-quyen-langbian-nam-2015.html

10/ Khu dự trữ sinh quyển Núi Chúa, 2021. Ranh giới thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Link chi tiết: https://www.unescoviet.org/2025/08/khu-du-tru-sinh-quyen-nui-chua-nam-2021.html

11/ Khu dự trữ sinh quyển Kon Hà Nừng, 2021. Thuộc tỉnh Gia Lai.

Link chi tiết: https://www.unescoviet.org/2025/08/khu-du-tru-sinh-quyen-kon-ha-nung-nam.html

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ năm 2000

Việt Nam được Ủy ban Sinh quyển và Con người thuộc UNESCO công nhận 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới gồm: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, 2000. Ranh giới thuộc Cần Giờ, (Tp HCM). Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ. UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 21/1/2000 với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn. Nơi đây được công nhận là một khu du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam. Hình thành Trước chiến tranh, Cần Giờ là khu rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú nhưng bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh. Năm 1978, Cần Giờ được sáp nhập về Thành phố Hồ Chí Minh, và năm 1979 UBND thành phố Hồ Chí Minh phát động chiến dịch trồng lại rừng Cần Giờ, thành lập Lâm trường Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ, thuộc Ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi...