Chuyển đến nội dung chính

"Cuộc đua" danh hiệu UNESCO ở Việt Nam

Việt Nam đã có nhiều  di sản  đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới tuy nhiên khi công tác bảo tồn di sản chạy theo theo hướng danh hiệu, thành tích đã vô tình hủy hoại di sản  không đúng với tinh thần của UNESCO.

Những gì VietNamNet đề cập đến trong bài viết Thành nhà Hồ-phía sau câu chuyện di sản thế giới không phải là hiếm ở Việt Nam. Thực tế từ những công trình đã được tôn vinh cho thấy không phải lúc nào những người làm công tác quản lý văn hóa cũng hiểu hết được giá trị đích thực của việc được UNESCO công nhận. Và các hồ sơ của Việt Nam đệ trình lên UNESCO xin công nhận Di sản thế giới vẫn đang tiếp tục…


Những di sản bị… biến dạng

Việt Nam đã có 7 di sản vật thể (2 địa danh thiên nhiên, 5 địa danh văn hóa) và 9 di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Tuy nhiên trong những năm trở lại đây, khi công tác bảo tồn di sản chạy theo theo hướng danh hiệu, thành tích, một vài nơi thay vì phát huy đã vô tình hủy hoại hoặc có bảo tồn nhưng việc làm không đúng với tinh thần của UNESCO về bảo vệ di sản.

Dân ca quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. Nhưng việc 3700 người cùng đồng ca quan họ chưa từng có trong lịch sử xứ quan họ Kinh Bắc liệu có phải là việc làm phát huy và bảo tồn những làn điệu quan họ nguyên gốc hay là một việc làm phi quan họ? Bởi quan họ sống trong cộng đồng, từng gia đình và nhân dân chứ không phải hát tập thể kiểu đồng ca để lập kỷ lục.

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại và ngay lập tức những bộ Cồng Chiêng đang bị chảy máu khi chúng trở thành mối quan tâm chú ý của nhiều giới và nhiều người mua bán cổ vật. Đã có bản làng Nhà nước phải đúc chiêng tặng lấp vào chỗ trống khi dân làng đã lỡ bán hết, Cồng Chiêng không còn thì liệu Không gian Cồng Chiêng có còn để Tây Nguyên tự hào với danh hiệu mà UNESCO đã công nhận?

Nhã nhạc Cung đình Huế và gần đây nhất là hát Xoan Phú Thọ mới đây cũng đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Điều đó có nghĩa công tác bảo tồn đối với loại hình di sản có một không hai này được UNESCO quan tâm số 1. Nhưng trong lúc chưa kịp phục hồi những làn điệu cổ thì những biến tướng đã xuất hiện kiểu như “giao hưởng hóa” Nhã nhạc, “chèo hóa” hát Xoan, khiến người xem khi chưa hiểu và trân trọng được giá trị thật đã phải chịu đựng những buổi biểu diễn “trẻ hóa và lai tạp” trong các nhà hàng và thậm chí là trên cả truyền hình quốc gia.

Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận và sau đó được cấp 570 tỉ đồng để trùng tu hơn 100 công trình. Nhưng điều đáng tiếc là không ít công trình đã trở nên “mới hẳn”. Những mái ngói cổ được thay bằng vật liệu hoàn toàn khác, những vết tích xưa cũ được sơn mới lòe loẹt. Không ít những chi tiết hoa văn cổ bị bỏ bớt hoặc thiết kế lại. Không chỉ dừng lại ở Cố đô Huế, gần đây nhất là Đàn Nam Giao của Thành nhà Hồ đã được phục dựng bất chấp cơ sở khoa học đang là hồi chuông báo động cho tình trạng bảo tồn các di tích ở Việt Nam nói chung hiện nay.

Di sản thế giới không chỉ nằm ở “danh hiệu”

Danh hiệu Di sản thế giới của UNESCO mà nhiều địa phương đang làm hồ sơ thực chất là một hoạt động mang tính khoa học, được tổ chức UNESCO chủ trì trên cơ sở Công ước quốc tế về Bảo vệ Di sản Văn hoá và Thiên nhiên Thế giới, ra đời năm 1977. Hiện có trên 150 quốc gia thành viên thừa nhận tính pháp lý và hiệu lực của Công ước này.

Mục tiêu của công ước nằm ở tính hành động - không phải là tôn vinh hay gắn huân chương cho các quốc gia. Ngược lại khi tham gia Công ước, các quốc gia tự gánh lấy một trách nhiệm quốc tế hết sức nặng nề: Đó là tự nguyện đầu tư tiền của và trí tuệ để gìn giữ và bảo vệ các di tích tại quốc gia mình không chỉ cho dân tộc mình, mà cho toàn nhân loại. Nguyên tắc và tiêu chí sống còn của Công ước là tính trung thực và khoa học, trong đó bảo tồn giá trị nguyên trạng của các vết tích lịch sử và thiên nhiên là một điều kiện sống còn.

Song thực tế tại Việt Nam, nhiều di sản đang không được bảo tồn theo nguyên tắc và tiêu chí này mà đang được biến thành một thứ danh hiệu, để quảng bá và thu hút du lịch. Mà đối với công tác bảo tồn thì Văn hoá và Du lịch là hai khái niệm đi ngược nhau về xu hướng: Một bên phải đầu tư để gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá và vẻ đẹp độc đáo của tạo hoá cho tương lai, còn bên kia là khai thác, thậm chí là bóc lột văn hoá và thiên nhiên để làm kinh tế.

Không chỉ ở Việt Nam mà có một số nước đã mắc phải sai lầm để đến khi phát hiện thì đã muộn, không thể sửa sai. Sau khi được UNESCO công nhận là di sản thể giới, người ta đã nhân danh phục chế, thậm chí là "phát triển" để làm mới lại các di tích nhằm hấp dẫn du khách, phục vụ cho các mục đích kinh tế. Cách nhìn cơ hội đó sớm muộn sẽ làm tổn hại các giá trị văn hoá vô giá của các di sản.

Thực tế đã cho thấy Hội đồng của Công ước Bảo vệ Di sản và Thiên nhiên Thế giới trong mấy năm gần đầy đã công bố xóa tên không ít các di tích lịch sử và thiên nhiên ra khỏi danh sách di sản thế giới hoặc đưa nhiều di sản vào danh sách nguy hiểm như một lời cảnh báo do các quốc gia đã đi ngược lại tình thần tiến bộ của công ước, lợi dụng uy tín của Công ước và hình ành UNESCO phục vụ các các mục tiêu thiển cận.

Xin được kết bằng lời bàn của PGS TS. Nguyễn Văn Huy, Trưởng ban Di sản văn hoá phi vật thể của Hội di sản văn hoá Việt Nam khi trả lời VietNamNet về công tác quản lý văn hóa: “Chúng ta phải tạo ra những người quản lý có quan điểm, định hướng tiên tiến, tư duy, phương pháp quản lý văn hóa đúng. Còn nếu chạy theo giống như bên tiếp thị kinh tế thì sẽ chỉ làm hỏng văn hóa”.

Bài học rút danh hiệu

Có 3 địa danh trên thế giới đã bị UNESCO cảnh báo và loại khỏi danh sách Di sản thế giới. Thung lũng Dresden – Đức được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Tuy nhiên trong quá trình phát triển đô thị, chính quyền đã dựng lên một cây cầu bắc qua thung lũng Dresden và cảnh quan của thung lũng bị phá hỏng. Kết quả là Thung lũng Dresden đã bị UNESCO gỡ tên khỏi danh sách Di sản Thế giới.

Liên quan đến khai thác du lịch, thành phố Ayutthaya của Thái Lan cũng được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Tuy nhiên trước tình trạng khai thác du lịch với hàng triệu lượt khách mỗi năm cộng thêm với tình trạng các di tích đã được công nhận tại Ayutthaya bị lấn chiếm đất do quá trình phát triển đô thị, UNESCO đã ra cảnh báo và thậm chí đã từng có ý định rút danh hiệu Di sản thế giới của thành phố có từ thế kỷ 14 này.

Tương tự với trường hợp của khu bảo tồn linh dương sừng thẳng Ả Rập (Oman). Việc Chính phủ Oman quyết định mở 90% địa điểm để khảo sát dầu mỏ đã dẫn đến tình trạng số linh dương sừng thẳng Ả Rập tại đây đã bị giảm từ 450 con vào năm 1996 xuống còn 65 con trong năm 2007. Đây chính là lý do khu bảo tồn này bị UNESCO loại khỏi danh sách.

Nguyễn Hoàng

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ năm 2000

Việt Nam được Ủy ban Sinh quyển và Con người thuộc UNESCO công nhận 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới gồm: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, 2000. Ranh giới thuộc Cần Giờ, (Tp HCM). Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ. UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 21/1/2000 với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn. Nơi đây được công nhận là một khu du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam. Hình thành Trước chiến tranh, Cần Giờ là khu rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú nhưng bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh. Năm 1978, Cần Giờ được sáp nhập về Thành phố Hồ Chí Minh, và năm 1979 UBND thành phố Hồ Chí Minh phát động chiến dịch trồng lại rừng Cần Giờ, thành lập Lâm trường Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ, thuộc Ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi...