Chuyển đến nội dung chính

Lạng Sơn kiến tạo hệ sinh thái du lịch - đầu tư từ nông thôn mới

 Trên hành trình gắn du lịch với nông thôn mới, Lạng Sơn xây dựng hệ sinh thái du lịch lấy cộng đồng làm trọng tâm, liên kết doanh nghiệp, chuyển giá trị di sản thành sinh kế bền vững, tạo tăng trưởng và gìn giữ bản sắc.

Điểm du lịch Hoa Hồi, Lạng Sơn (Ảnh: Linh Nguyễn)
Điểm du lịch Hoa Hồi, Lạng Sơn. Ảnh: Linh Nguyễn

Hệ sinh thái du lịch định hình từ làng bản

Về xứ Lạng, sắc xanh Hữu Liên ôm lấy những nếp nhà sàn, các dải núi đá vôi nối nhau như lớp trầm tích kể chuyện thiên nhiên và con người. Những tuyến homestay và tour trải nghiệm đang nối điểm thành tuyến, tuyến thành vùng, còn câu chuyện điểm đến được kể bằng tiếng nói của cộng đồng cùng sự đồng hành của doanh nghiệp. Từ nền tảng ấy, Lạng Sơn bước vào giai đoạn chuẩn hóa tiêu chí bảo tồn đi cùng khai thác, mở rộng kết nối và nâng chuẩn dịch vụ.

Tháng 4 vừa qua, UNESCO đã chính thức ghi danh Công viên địa chất Lạng Sơn vào mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu. Không gian hơn 4.842 km2 bao trùm Bắc Sơn, Chi Lăng, Hữu Lũng, Lộc Bình, Văn Quan, phần Bình Gia, Cao Lộc và TP. Lạng Sơn, là nơi cư trú của 7 cộng đồng Nùng, Tày, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông. Hệ sinh thái tiêu biểu tại Khu dự trữ thiên nhiên Hữu Liên ghi nhận 794 loài thực vật bậc cao thuộc 162 họ (31 loài trong Sách đỏ Việt Nam), cùng 57 loài thú, 23 loài bò sát, 14 loài lưỡng cư.

Danh hiệu quốc tế mở ra cho Lạng Sơn một mạng lưới hợp tác từ trao đổi chuyên gia, chia sẻ kinh nghiệm bảo tồn, khai thác đến cơ hội huy động nguồn lực cho hạ tầng, đào tạo và xúc tiến thị trường. Cùng với đó là những chuẩn mực cao hơn về quản trị di sản, đánh giá sức chứa và tác động môi trường, tổ chức dòng khách theo mùa, bảo đảm an toàn và trải nghiệm.

“Khi mỗi bản làng là một mắt xích và mỗi sản phẩm mang một câu chuyện riêng, hệ sinh thái du lịch - đầu tư sẽ lớn dần theo cách tự nhiên, bền bỉ và có lợi cho người dân”, ông Phạm Hải Quỳnh, Viện trưởng Viện Phát triển Du lịch châu Á (ATI).

Vì thế, cần tổ chức theo tư duy hệ sinh thái, trong đó di sản làm hạt nhân, cộng đồng làm chủ, doanh nghiệp kéo thị trường và chuẩn hóa, chính quyền điều phối quy hoạch, bảo tồn, phân chia lợi ích. Vận hành bắt đầu từ điểm mẫu cấp làng cùng bộ chỉ số chất lượng dễ theo dõi, quỹ nâng hạng dịch vụ, các khóa đào tạo có chứng nhận và nền tảng số về lộ trình. Khi lợi ích người dân gắn với mục tiêu nông thôn mới, mọi bên đều có phần và có trách nhiệm.

Ông Phạm Hải Quỳnh, Viện trưởng Viện Phát triển Du lịch châu Á (ATI), Chủ tịch Hội Du lịch Cộng đồng Việt Nam (VCTC) nhấn mạnh: “Lạng Sơn có cảnh quan thiên nhiên giàu giá trị, đã được đánh dấu trên bản đồ địa chất toàn cầu. Điều quan trọng là hoàn thiện câu chuyện điểm đến, bảo tồn giá trị văn hóa và gắn phát triển du lịch với sinh kế của người dân.”

Khi tầm nhìn được chia sẻ, những chuyển động ở cấp làng trở nên rõ nét. Quỳnh Sơn, Đồng Lâm và nhiều bản ở Hữu Liên đã mở homestay, dẫn tour trekking, tổ chức hoạt động trải nghiệm văn hóa. Sự thay đổi đi từ việc nhỏ, nhưng tạo hiệu ứng lan tỏa vì gắn trực tiếp với thu nhập và niềm tự hào bản địa.

Bà Phạm Thị Hương, Phó trưởng phòng Quản lý Công viên Địa chất Toàn cầu Lạng Sơn (Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh Lạng Sơn) xác định trục sản phẩm: “Chúng tôi coi hệ thống hang động cùng trải nghiệm cộng đồng là sản phẩm cốt lõi. Để biến tiềm năng thành giá trị cần đầu tư bài bản vào hạ tầng, dịch vụ và truyền thông. Khi một ngôi làng được chọn làm điểm mẫu, nâng cấp hạ tầng, đào tạo người dân và quảng bá hiệu quả, câu chuyện thành công sẽ lan ra những cộng đồng lân cận”.

Từ nền tảng ấy, hệ sinh thái được hoàn thiện bằng quy hoạch tinh gọn, tiêu chuẩn dịch vụ rõ ràng và cơ chế để người dân, doanh nghiệp cùng tham gia.

Liên kết để giữ chân khách và chia sẻ lợi ích

Sau khi định vị sản phẩm, bài toán tiếp theo là kéo dài thời gian lưu trú và tăng chi tiêu tại điểm đến. Dưới góc nhìn của doanh nghiệp, ông Trương Đức Hải, Giám đốc Công ty du lịch Hòn Ngọc Viễn Đông cho rằng, trước đây Lạng Sơn chủ yếu đón khách tham quan trong ngày, giờ cần tổ chức để khách ở lại ít nhất một đêm, có thời gian nghỉ ngơi và trải nghiệm sâu hơn.

Theo ông Hải, tỉnh nên xây dựng các cung đường chuẩn phục vụ nhóm khách tự lái. Khi lộ trình hai ngày, ba ngày hay năm ngày được công bố trên nền tảng số của công viên, du khách chủ động hơn trong việc lập kế hoạch và phân bổ chi tiêu.

Song song với đó, liên kết vùng cũng là đòn bẩy để làm giàu trải nghiệm và giữ chân khách lâu hơn. Từ Lạng Sơn, hành trình có thể nối với Cao Bằng, Bình Liêu, Móng Cái, Hạ Long rồi trở lại Hà Nội, tạo thành vòng cung cảnh quan, văn hóa, ẩm thực đa dạng.

Hệ thống sản phẩm theo cấp độ cũng giúp mở rộng thị trường, khách đại chúng có lựa chọn trải nghiệm nhẹ nhàng, người ưa chinh phục có lộ trình nâng dần độ khó, tất cả đều dựa trên nguyên tắc an toàn và tôn trọng môi trường.

Mọi cấu phần của hệ sinh thái đều quy về lợi ích của cộng đồng, khi người dân là chủ thể, dịch vụ trở nên chân thực, tài nguyên được gìn giữ và niềm tin vào du lịch bền vững được củng cố.

Từ những nguyên tắc ấy, lộ trình phát triển có thể đi theo ba mạch liên thông. Thứ nhất là chuẩn hóa điểm mẫu ở cấp làng với bộ tiêu chí cảnh quan, văn hóa, an toàn, vệ sinh và năng lực đón khách; kèm theo chương trình đào tạo thuyết minh, ẩm thực bản địa, cứu hộ cơ bản. Thứ hai là số hóa hành trình để khách dễ tra cứu lộ trình, điểm dừng, thời gian, chi phí và quy tắc ứng xử; đồng thời kết nối thanh toán, đặt dịch vụ trực tuyến cho các hộ dân. Thứ ba là mở rộng kênh thị trường qua liên minh với hiệp hội chuyên đề, nền tảng số và mạng lưới lữ hành, qua đó đa dạng nguồn khách và kéo dài mùa vụ.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ năm 2000

Việt Nam được Ủy ban Sinh quyển và Con người thuộc UNESCO công nhận 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới gồm: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, 2000. Ranh giới thuộc Cần Giờ, (Tp HCM). Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ. UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 21/1/2000 với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn. Nơi đây được công nhận là một khu du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam. Hình thành Trước chiến tranh, Cần Giờ là khu rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú nhưng bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh. Năm 1978, Cần Giờ được sáp nhập về Thành phố Hồ Chí Minh, và năm 1979 UBND thành phố Hồ Chí Minh phát động chiến dịch trồng lại rừng Cần Giờ, thành lập Lâm trường Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ, thuộc Ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi...