Chuyển đến nội dung chính

Hành trình bền bỉ đưa Yên Tử ghi danh Di sản văn hóa thế giới

 Một ngày cuối tuần, chuyến xe khách đưa chúng tôi ngược về vùng đất thiêng Yên Tử (Quảng Ninh). Câu chuyện sôi nổi nhất trên xe là tin vui Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử-Vĩnh Nghiêm-Côn Sơn, Kiếp Bạc (viết tắt là di sản Yên Tử) vừa được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh vào danh mục Di sản văn hóa thế giới.

Gương mặt ai cũng rạng rỡ, bởi sau bao nhiêu năm bền bỉ, những giá trị tâm linh, lịch sử, cảnh quan và tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông cùng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được thế giới tôn vinh.

Gặp lại chúng tôi trong niềm hân hoan, ông Nguyễn Việt Dũng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh bồi hồi: “Mừng lắm các anh ạ! Có những lúc tưởng như hồ sơ di sản Yên Tử bị loại bỏ, phải làm lại từ đầu. Nhưng nhờ sự kiên trì, bền bỉ và đồng lòng của các thành viên, di sản Yên Tử đã được UNESCO công nhận”.

Hành trình bền bỉ đưa Yên Tử ghi danh Di sản văn hóa thế giới

Đông đảo người dân và du khách cung nghinh xá lợi Đức Phật về Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử, tháng 5-2025. Ảnh: NGỌC SƠN

Suốt 13 năm ròng kể từ khi khởi động lập hồ sơ di sản Yên Tử, Quảng Ninh đã chủ trì phối hợp cùng Bắc Giang (nay là Bắc Ninh), Hải Dương (nay là Hải Phòng), cùng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao và nhiều cơ quan liên quan tổ chức 8 hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế, 11 cuộc họp liên ngành, hơn 100 phiên làm việc giữa ban điều hành hồ sơ. Có giai đoạn, hồ sơ di sản Yên Tử tưởng chừng đi vào ngõ cụt, đặc biệt khi dịch Covid-19 ập đến.

Đến cuối năm 2024, hồ sơ Yên Tử được trình UNESCO, nhưng tháng 4-2025, kết quả trả về là mức 3, mức “chưa đạt yêu cầu”. Theo quy định, việc đánh giá hồ sơ di sản của UNESCO có 4 mức, gồm: Mức 1-thông qua; mức 2-đạt yêu cầu; mức 3-trả hồ sơ về; mức 4-trong 5 năm tới không được trình hồ sơ. 3 điểm UNESCO lưu ý về hồ sơ di sản Yên Tử là: Chưa làm rõ giá trị toàn cầu của di sản; chưa khẳng định tính xác thực; thiếu sự liên tục trong di sản. “Khi ấy, chúng tôi nghĩ rằng 12 năm công sức có thể phải quay lại vạch xuất phát. Nỗi lo lớn nhất là nếu bị đánh giá mức 4, Việt Nam sẽ không thể trình lại hồ sơ di sản Yên Tử trong 5 năm tới. Khi ấy, lãnh đạo Hội đồng Di tích và Di chỉ quốc tế (ICOMOS) và các thành viên trong Ủy ban Di sản thế giới sẽ thay đổi và chúng ta gần như phải vận động từ đầu”, ông Dũng nhớ lại.

Đúng lúc hồ sơ di sản Yên Tử bế tắc, cơ duyên xuất hiện. Cuối tháng 5-2025, ông Lazare Eloundou Assomo, Giám đốc Trung tâm Di sản thế giới UNESCO có chuyến thăm và làm việc tại Quảng Ninh. Nhân dịp này, Hòa thượng Thích Thanh Quyết, Phó chủ tịch Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng ban Giáo dục Phật giáo Trung ương, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ninh dự và trực tiếp trình bày về tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Nghe xong, ông Lazare xúc động: “Thật tiếc khi hồ sơ di sản Yên Tử của các bạn không có những câu nói của vị hòa thượng này”.

Kể từ đó, việc trình hồ sơ di sản Yên Tử có sự thay đổi. Với sự đồng hành của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hồ sơ được bổ sung bằng những luận cứ xác thực, sâu sắc hơn về triết lý “tam hòa” - hòa giải, hòa hợp, hòa bình - vốn đã tỏa sáng từ hơn 700 năm trước do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập. Hòa thượng Thích Thanh Quyết vẫn nhớ như in chuyến đi Paris (Pháp) vào tháng 7-2025 dự Kỳ họp lần thứ 47 của Ủy ban Di sản thế giới để bảo vệ hồ sơ di sản Yên Tử. “Trước ngày lên đường, một lãnh đạo của ICOMOS có nói rằng, phái đoàn Việt Nam sang bảo vệ hồ sơ di sản Yên Tử thì cứ sang, nhưng có đi cũng chẳng thay đổi được gì. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn quyết tâm lên đường, bởi đây là trách nhiệm với tiền nhân và dân tộc”, Hòa thượng Thích Thanh Quyết nhớ lại.

Trong 5 ngày tại Paris, phái đoàn Việt Nam có tới 37 cuộc họp, nhiều hôm làm việc đến 12 giờ đêm. Trong cuộc gặp riêng của phái đoàn Việt Nam, Đại sứ Nhật Bản xúc động và đánh giá cao tư tưởng “tam hòa” của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Trong khi Đại sứ Lebanon cũng bày tỏ: "Ước gì chúng tôi có một vị vua như Trần Nhân Tông để đất nước không còn phải chịu cảnh xung đột".

Đặc biệt, khi trao đổi riêng với Chủ tịch ICOMOS, Hòa thượng Thích Thanh Quyết nhấn mạnh: “Trên thế giới, chưa có vị hoàng đế nào đang ở đỉnh cao vinh quang lại rời bỏ ngai vàng để sống đời tu hành giản dị, sáng lập một tông phái Phật giáo vì nhân dân, vì dân tộc, vì hòa bình nhân loại như Vua Trần Nhân Tông. 700 năm sau, tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử không thay đổi, hơn thế còn được bồi đắp những giá trị tích cực. Ngay ở Paris, chúng tôi cũng có Trúc Lâm thiền viện Paris, tạo nên một khung cảnh hài hòa, hòa hợp, hòa bình giữa Phật giáo Việt Nam với nhân dân Paris”. Lập luận ấy đã tạo bước ngoặt, khiến hồ sơ Yên Tử trở thành tâm điểm tại Kỳ họp lần thứ 47 của Ủy ban Di sản thế giới.

Nếu các hồ sơ khác chỉ mất 40 phút để xét duyệt, hồ sơ Yên Tử kéo dài tới gần 2 tiếng với 20 đại sứ/21 thành viên thường trực của Ủy ban Di sản thế giới phát biểu-điều chưa từng có trong các cuộc họp trước đây. Tất cả đều ủng hộ di sản Yên Tử và mong tư tưởng “tam hòa” cần được lan tỏa mạnh mẽ trên thế giới.

Trong quá trình tiếp nhận khuyến nghị từ ICOMOS, tỉnh Quảng Ninh, Bắc Ninh, TP Hải Phòng đã chủ động xây dựng và gửi Báo cáo giải trình, bổ sung thông tin 4 lần vào tháng 11-2024, tháng 2-2025, tháng 4-2025 và tháng 6-2025. Sự kiên trì, kiên định và tinh thần cầu thị này đã góp phần quan trọng thuyết phục các tổ chức quốc tế công nhận giá trị đặc biệt, nổi bật toàn cầu của di sản. Di sản Yên Tử được công nhận theo tiêu chí (iii) và (vi), vừa là minh chứng độc đáo cho sự kết hợp giữa nhà nước, tôn giáo và nhân dân trong việc hình thành bản sắc dân tộc Việt Nam; vừa là biểu tượng cho một hệ thống đạo đức hướng tới hòa bình, nhân ái, sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên.

Sau niềm vui khi Yên Tử trở thành di sản văn hóa thế giới, vấn đề đặt ra không mới là các cấp, ngành, địa phương sẽ vào cuộc thế nào để di sản thực sự biến thành tài sản. Thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Bắc Ninh, TP Hải Phòng, đồng chí Phạm Đức Ấn, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh khẳng định: Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ phối hợp chặt chẽ, đồng bộ trong xây dựng, tổ chức triển khai kế hoạch quản lý di sản theo đúng quy định pháp luật và Công ước bảo vệ Di sản văn hóa của UNESCO; bảo đảm vừa bảo tồn nguyên vẹn các giá trị, vừa phát huy sáng tạo và hài hòa trong bối cảnh phát triển bền vững; biến những giá trị truyền thống thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ.

“Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử-Vĩnh Nghiêm-Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh là Di sản thế giới đã góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam. Đây là sức mạnh mềm, là nội lực để văn hóa thực sự trở thành động lực đột phá cho phát triển, để nền văn hiến Việt Nam rạng danh muôn đời, đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng”. (Phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Lễ công bố giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản văn hóa thế giới Yên Tử-Vĩnh Nghiêm-Côn Sơn, Kiếp Bạc, ngày 17-8-2025).

Nguồn:https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/hanh-trinh-ben-bi-dua-yen-tu-ghi-danh-di-san-van-hoa-the-gioi-846377

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ năm 2000

Việt Nam được Ủy ban Sinh quyển và Con người thuộc UNESCO công nhận 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới gồm: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, 2000. Ranh giới thuộc Cần Giờ, (Tp HCM). Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ. UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 21/1/2000 với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn. Nơi đây được công nhận là một khu du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam. Hình thành Trước chiến tranh, Cần Giờ là khu rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú nhưng bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh. Năm 1978, Cần Giờ được sáp nhập về Thành phố Hồ Chí Minh, và năm 1979 UBND thành phố Hồ Chí Minh phát động chiến dịch trồng lại rừng Cần Giờ, thành lập Lâm trường Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ, thuộc Ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi...