Chuyển đến nội dung chính

20 năm Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO vinh danh là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại

 Hà Nội (TTXVN 25/11/2025) Cách đây 20 năm, ngày 25/11/2005 đánh dấu mốc quan trọng khi Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO vinh danh là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.

Từ những buôn làng xa xôi, tiếng cồng chiêng vượt qua biên giới để trở thành tài sản chung của nhân loại, mang bản sắc Việt Nam đến với bạn bè thế giới. Để gìn giữ nét văn hóa này, cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên đang nỗ lực để bảo vệ và phát huy các giá trị của Di sản.

Nét văn hoá đặc trưng, đầy sức quyến rũ và hấp dẫn của vùng đất Tây Nguyên

Tây Nguyên - xứ sở của những thiên sử thi đẫm chất huyền thoại, vùng đất của đại ngàn xanh thẳm, của không gian văn hóa cồng chiêng đậm đà bản sắc. Không gian văn hóa cồng chiêng trải rộng suốt các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên, như Ê đê, Ba na, Xơ đăng, Gia rai, M’nông, Cơ ho…

Đồng bào Bahnar trình diễn cồng chiêng tại phố đi bộ Hồ Gươm. Ảnh: Tuấn Đức - TTXVN

Cồng chiêng xuất hiện trên mảnh đất Tây Nguyên từ bao giờ không ai rõ. Nó như mạch nước ngầm thấm đẫm hơi thở cuộc sống. Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, cồng chiêng có từ thời cổ đại, bắt nguồn từ nền văn minh Đông Sơn có cách đây ít nhất 3.500-4.000 năm, với hai nhạc cụ điển hình là trống đồng và cồng chiêng. Theo quan niệm của người Tây Nguyên, cồng chiêng là ngôn ngữ giao tiếp của con người với thế giới siêu nhiên. Nó được coi là biểu hiện cho tài sản, quyền lực, sự an toàn trong mỗi gia đình và cộng đông.

Cồng, chiêng được làm từ hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen. Cồng là loại có núm, chiêng không núm. Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đường kính từ 20 đến 50-60 cm, loại cực đại tới 90-120 cm. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ từ 2 đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi tới 18-20 chiếc. Trong một bộ chiêng, chiêng mẹ (chiêng cái) là quan trọng nhất. Cồng chiêng có thể được gõ bằng dùi hoặc đấm bằng tay. Có dân tộc còn áp dụng kỹ thuật chặn tiếng bằng tay trái hoặc tạo giai điệu trên một chiếc chiêng...

Trải qua năm tháng, cồng chiêng đã trở thành nét văn hoá đặc trưng, đầy sức quyến rũ và hấp dẫn của vùng đất Tây Nguyên. Những âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng, đã sống mãi cùng đất trời và con người Tây Nguyên.

Vì vậy, âm nhạc ở đây không đơn thuần là nghệ thuật mà có chức năng phục vụ một sự kiện đặc biệt trong xã hội hoặc trong đời sống hàng ngày. Lúc đứa trẻ mới chào đời, tiếng cồng vang lên chào đón thành viên mới. Khi đứa trẻ lớn lên, mỗi giai đoạn của đời sống, từ việc ruộng đồng cho đến những buổi gặp gỡ nam nữ, khi đón khách, lên nhà mới hay tang lễ… đều không thể thiếu tiếng cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng âm vang gợi cho người nghe như thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội… của con người Tây Nguyên. Vào những ngày lễ hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Đây cũng chính là nguồn gốc của những áng sử thi, thơ ca đi vào lòng người.

Ảnh: Tuấn Đức - TTXVN

Điểm độc đáo nữa của cồng chiêng là tính cộng đồng. Không gian diễn xướng mở rộng cho mọi người, không phân biệt nam nữ, không có những cấm kỵ đặc biệt. Nhiều tộc người còn cho phép phụ nữ đánh chiêng - một minh chứng cho sự bình đẳng và dấu ấn mẫu hệ trong cấu trúc văn hóa Tây Nguyên.

 

Theo nghệ nhân K’Bon (người K’Ho), "sân khấu dân gian" chính là không gian rừng, không gian lễ hội, không gian bon làng - nơi những con người mộc mạc, chân chất gửi đến các thế lực siêu nhiên tiếng nói của cộng đồng bên chóe rượu cần, quanh ngọn lửa thiêng, giữa tiếng cồng chiêng ngân vọng cùng gió ngàn, mây núi.

"Nó còn đẹp ở hình thể, ở động tác tay chân của người đánh chiêng và cả vũ điệu của những người múa xoang", nghệ nhân Touneh Ma Bio (người Chu Ru) chia sẻ.

Linh thiêng, huyền ảo mà gần gũi, cồng chiêng Tây Nguyên là tiếng vọng của truyền thống, sợi dây nối quá khứ với hiện tại và tương lai, nối văn hóa của từng tộc người với văn hóa cộng đồng và nhân loại.

 Nỗ lực bảo tồn và phát huy Di sản

Từ năm 2005 đến nay, các tỉnh Tây Nguyên đã thực hiện nhiều chương trình nhằm bảo tồn và phát huy giá trị Di sản này.

Nhiều lớp truyền dạy nghệ thuật cồng chiêng được mở ra cho thanh thiếu niên và các nghệ nhân lớn tuổi là người hướng dẫn, truyền nghề; đồng thời được đẩy mạnh trong các trường nghệ thuật của hai tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và trường Đại học Tây Nguyên. Cùng với đó là hoạt động khôi phục các lễ hội truyền thống, trang bị nhạc cụ, phục hồi trang phục dân tộc, và tổ chức những buổi trình diễn định kỳ để cồng chiêng tiếp tục sống trong đời sống cộng đồng.

 

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, những địa phương, như: Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk hay Lâm Đồng đã tổ chức hàng trăm lớp đào tạo, phục dựng lễ hội, đồng thời khuyến khích các nghệ nhân trẻ tiếp bước cha anh. Bên cạnh đó, việc đưa cồng chiêng vào bảo tàng, các hoạt động du lịch trải nghiệm… giúp Không gian văn hóa cồng chiêng hiện diện sinh động hơn giữa đời sống hiện đại.

Chương trình nghệ thuật tại lễ khai mạc Festival Văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên. Ảnh: Thống Nhất -TTXVN

Ngoài ra, các tỉnh Tây Nguyên còn đẩy mạnh công tác khảo cứu điền dã, xây dựng phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng, tổ chức đội ngũ nghiên cứu có chuyên môn về âm nhạc truyền thống.

Bên cạnh đó, các kỳ Festival quốc tế cồng chiêng, lễ hội văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở cấp khu vực và cấp tỉnh cũng được tổ chức định kỳ hàng năm tại các tỉnh Tây Nguyên. Cồng chiêng Tây Nguyên cũng được vinh danh tại nhiều lễ hội, sự kiện mang tầm quốc gia và khu vực, như Liên hoan cồng chiêng tại các kỳ lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột…

    Đặc biệt, trong khuôn khổ hoạt động kỷ niệm 20 năm Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại, sẽ diễn ra Lễ hội Cồng chiêng Đông Nam Á (tại Đà Lạt từ 18/12/2025 đến 2/1/2026), quy tụ các đoàn nghệ thuật từ 5 quốc gia trong khu vực và 11 đoàn trong nước. Sự kiện có sự tham gia của các đoàn nghệ thuật cồng chiêng đến từ Campuchia, Lào, Malaysia, Indonesia và Thái Lan. Trong nước, ngoài 6 đoàn chủ nhà Lâm Đồng còn có đại diện của Gia Lai, Đắk Lắk, Kon Tum và Phú Thọ (dân tộc Mường và Thái).

    Trong đó, điểm nhấn của Lễ hội là đêm "Hòa âm Cồng chiêng Đông Nam Á" vào tối 20/12/2025, tại quảng trường Lâm Viên Đà Lạt. Hơn 200 nghệ nhân sẽ trình diễn kết hợp giữa cồng chiêng truyền thống và âm nhạc đương đại. Sự kiện dự kiến xác lập kỷ lục về không gian trình diễn cồng chiêng kết hợp văn hóa nghệ thuật lớn nhất.

    Những lễ hội cồng chiêng đặc sắc của dân tộc Tây Nguyên đã và đang thu hút rất nhiều du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã trở thành một điểm nhấn đặc biệt về văn hóa, du lịch, đồng thời góp phần phát triển kinh tế-xã hội của vùng đất cao nguyên./.

    Anh Anh

    Nhận xét

    Bài đăng phổ biến từ blog này

    Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

    Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

    Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

    Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

    "Non nước Cao Bằng" vinh dự đoạt giải thưởng toàn cầu

      Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng vinh dự là 1 trong 5 CVĐC trên thế giới được Giải thưởng “Mô hình hoạt động hiệu quả của Mạng lưới CVĐC toàn cầu UNESCO”. Hội nghị quốc tế lần thứ 11 của Mạng lưới Công viên địa chất (CVĐCTC) toàn cầu UNESCO (GGN) diễn ra tại Cộng hòa Chi-lê từ ngày 05 – 15/9. Hội nghị GGN lần thứ 11 quy tụ khoảng 1.000 đại biểu, gồm đại diện các CVĐC toàn cầu UNESCO, các CVĐC tiềm năng, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, chính khách và nhà quản lý. Đây là diễn đàn để các CVĐC gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu những mô hình hiệu quả, giải pháp thiết thực trong xây dựng và phát triển danh hiệu CVĐC theo tiêu chí của UNESCO. Hội nghị cũng khẳng định vai trò gắn kết của GGN trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Rất đông đại biểu, du khách ấn tượng không gian văn hóa Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tại Hội nghị GGN lần thứ 11. Tham dự Hội nghị, CVĐC Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng t...