Chuyển đến nội dung chính

Bảo tồn di sản văn hóa Mo Mường

 Di sản văn hóa Mo Mường đang đứng trước nhiều thách thức trong xã hội hiện đại cùng sự xâm nhập của các luồng văn hóa ngoại lai, làm biến đổi không gian sinh tồn và phong tục truyền thống của đồng bào Mường...

Nghi thức Mo Mường được thực hiện trong tất cả các lễ hội lớn của người dân tộc Mường.
Nghi thức Mo Mường được thực hiện trong tất cả các lễ hội lớn của người dân tộc Mường.

...Trước nguy cơ mai một các giá trị cốt lõi, tỉnh Hòa Bình (trước đây) đã đệ trình UNESCO xem xét ghi danh Mo Mường là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Theo nghệ nhân, thầy mo Bùi Văn Minh ở xã Vân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Mo Mường là hoạt động diễn xướng dân gian được thể hiện trong các nghi lễ gắn với đời sống tín ngưỡng tâm linh của người Mường. Không gian tổ chức các hoạt động diễn xướng và lời mo được diễn ra trong đời sống cộng đồng và trong từng gia đình tổ chức nghi lễ.

Chủ thể thực hành Mo Mường là các thầy mo, đây là những người giữ tri thức mo, thuộc lòng hàng vạn câu mo và thông thạo các nghi lễ, tập quán, là người uy tín được cộng đồng tin tưởng. Khi thực hành nghi lễ thầy mo là người nói, đọc, hát các bài mo (bài khấn).

Người Mường không có chữ viết riêng cho nên các bài mo được lưu truyền từ thế hệ thầy mo này qua thế hệ thầy mo khác bằng phương pháp truyền miệng, được tồn tại và duy trì thông qua các nghi lễ trong dân gian của người Mường. Mo Mường gồm ba phần chính cấu thành: Lời mo, diễn xướng, môi trường diễn xướng và con người thực hành diễn xướng mo; trong đó lời mo gắn liền với người diễn xướng chiếm vị trí quan trọng nhất.

Qua thời gian, Mo Mường đã góp phần hình thành nên cốt cách, tâm hồn của bao thế hệ về truyền thống văn hóa, lịch sử của dân tộc Mường khu vực Hòa Bình (trước đây). Mo Mường chính là sự kết tinh những kinh nghiệm trong lao động sản xuất, ứng xử văn hóa, triết lý nhân sinh, thể hiện tình yêu cuộc sống, con người, quê hương xứ sở; thể hiện khí phách, cốt cách của con người và vùng đất Hòa Bình.

Năm 2024, tỉnh Hòa Bình (trước đây) đã xây dựng hồ sơ khoa học cấp Nhà nước về di sản văn hóa Mo Mường phối hợp với các tỉnh, thành phố trên cả nước có di sản văn hóa Mo Mường, đệ trình UNESCO đưa vào Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Theo kế hoạch, đến tháng 12/2026 sẽ được UNESCO xét duyệt.

Năm 2024, tỉnh Hòa Bình (trước đây) đã xây dựng hồ sơ khoa học cấp Nhà nước về di sản văn hóa Mo Mường phối hợp với các tỉnh, thành phố trên cả nước có di sản văn hóa Mo Mường, đệ trình UNESCO đưa vào Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Theo kế hoạch, đến tháng 12/2026 sẽ được UNESCO xét duyệt.

Từ quá khứ đến hiện tại, các thế hệ đồng bào dân tộc Mường đã lưu giữ, truyền miệng và phát huy một cách bền vững những giá trị của Mo Mường, tạo nên sức sống, sức lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội. Theo các nhà nghiên cứu, môi trường thực hành Mo Mường trên địa bàn tỉnh Hòa Bình (trước đây) đang bị thu hẹp do chưa có những giải pháp thật sự tích cực để xây dựng và tạo môi trường, địa điểm thực hành thuận lợi.

Việc tuyên truyền, quảng bá các nội dung, giá trị đặc sắc, tiêu biểu của di sản Mo Mường chưa được quan tâm thực hiện một cách bài bản; nội dung tuyên truyền còn đơn điệu, mang tính trực diện, truyền thông mà chưa được nghiên cứu, sáng tác để chuyển thể sang loại hình sân khấu hóa cho nên người dân và du khách rất khó có khả năng hấp thụ và cảm nhận đầy đủ các giá trị nội dung của di sản.

Ngoài ra, chưa có cơ chế, chính sách và kinh phí để thường xuyên bảo tồn và phát huy các giá trị di sản Mo Mường, dù đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia với những giá trị đặc sắc, nổi bật về lịch sử, văn hóa, khoa học. Hiện, do môi trường thực hành di sản Mo Mường ngày càng bị thu hẹp, một số nghi lễ không còn được thực hành như xưa, cho nên các thầy mo phải thực hành để phù hợp đời sống văn hóa ngày nay...

Tuy vậy, ý nghĩa, lời mo của nghi lễ vẫn có giá trị nhân văn để nghiên cứu phổ biến. Số lượng nghệ nhân Mo Mường cũng dần bị mai một, theo thống kê mới nhất, hiện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có gần 200 nghệ nhân, tập trung chủ yếu ở khu vực Hòa Bình (trước đây). Nghệ nhân Quách Văn Đào, xã Hợp Kim cho biết: “Trong khu vực huyện Kim Bôi (trước đây) hiện có chưa đến 10 nghệ nhân. Số nghệ nhân lớp chúng tôi ngày càng mai một. Mặc dù giới trẻ hiện nay có biết, nhưng để hiểu và quan tâm đến Mo Mường lại rất hiếm.

Chính vì vậy, rất cần các cấp có thẩm quyền hỗ trợ đội ngũ nghệ nhân để truyền lại cho thế hệ mai sau tiếp nối một cách chính thống”. Theo đại diện Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, việc thực hiện đào tạo, truyền dạy Mo Mường trong những năm qua trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn do chưa có môi trường và yêu cầu đòi hỏi cao về con người (phải được lựa chọn kỹ lưỡng về tố chất, năng khiếu, phải hiểu và biết tiếng nói, chữ viết của dân tộc Mường mới có thể học được).

Bên cạnh đó, lợi ích của việc học Mo Mường, hành nghề mo hiệu quả không cao, mất rất nhiều thời gian, công phu, kể cả đòi hỏi phải có uy tín xã hội mới có thể thực hiện được. Mặt khác, về nhận thức xã hội đối với vai trò, ý nghĩa của Mo Mường trong đời sống, ngay cả đối với những người dân tộc Mường cũng chưa thật sự đầy đủ, không hiểu hết các giá trị cốt lõi, ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tính lịch sử, khoa học của Mo Mường…

Trước nguy cơ di sản văn hóa Mo Mường ngày càng mai một, tỉnh Phú Thọ đã chỉ đạo tập trung kiểm kê, sưu tầm và tổng hợp, lưu giữ đầy đủ các giá trị, nội dung và kịp thời khắc phục. Đồng thời, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cấp, ngành và cộng đồng xã hội trong việc bảo tồn và phát huy hiệu quả giá trị của di sản trong các lĩnh vực đời sống xã hội; đưa di sản Mo Mường trở thành sản phẩm du lịch tiêu biểu đặc sắc gắn với phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

"Non nước Cao Bằng" vinh dự đoạt giải thưởng toàn cầu

  Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng vinh dự là 1 trong 5 CVĐC trên thế giới được Giải thưởng “Mô hình hoạt động hiệu quả của Mạng lưới CVĐC toàn cầu UNESCO”. Hội nghị quốc tế lần thứ 11 của Mạng lưới Công viên địa chất (CVĐCTC) toàn cầu UNESCO (GGN) diễn ra tại Cộng hòa Chi-lê từ ngày 05 – 15/9. Hội nghị GGN lần thứ 11 quy tụ khoảng 1.000 đại biểu, gồm đại diện các CVĐC toàn cầu UNESCO, các CVĐC tiềm năng, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, chính khách và nhà quản lý. Đây là diễn đàn để các CVĐC gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu những mô hình hiệu quả, giải pháp thiết thực trong xây dựng và phát triển danh hiệu CVĐC theo tiêu chí của UNESCO. Hội nghị cũng khẳng định vai trò gắn kết của GGN trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Rất đông đại biểu, du khách ấn tượng không gian văn hóa Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tại Hội nghị GGN lần thứ 11. Tham dự Hội nghị, CVĐC Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng t...