Chuyển đến nội dung chính

Bảo tồn, phát huy di sản các dân tộc thiểu số: Trách nhiệm không của riêng ai

 Việt Nam hiện có 9 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới; 17 di sản văn hóa phi vật thể và 11 di sản tư liệu được UNESCO vinh danh… Trách nhiệm bảo vệ, phát huy kho tàng giá trị này thuộc về ai?

Thời gian qua, Nhà nước, Chính phủ và các địa phương dành nhiều sự quan tâm cho cộng đồng các dân tộc thiểu số, trong đó vấn đề khôi phục, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống từ di sản của đồng bào luôn là ưu tiên trong nhiều dự án.

Là chuyên gia gắn bó với các hoạt động bảo tồn di sản, Chủ tịch Hội Di sản Văn hóa Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đỗ Văn Trụ đã có những chia sẻ xung quanh câu chuyện này với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus.

Cần nguồn lực mạnh mẽ hơn cho chủ thể di sản

- Thưa ông, Dự án 6 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì hướng đến mục tiêu khôi phục, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, gắn văn hóa với phát triển du lịch bền vững... Ông đánh giá thế nào về tính hiệu quả, tác động của Dự án đối với cộng đồng bản địa và theo ông trong thực tế chủ thể di sản gặp phải khó khăn ra sao?

Giáo sư Đỗ Văn Trụ: Trong 5 năm, từ 2019-2024, ngành văn hóa, thể thao và du lịch đã triển khai thực hiện đồng bộ nhiều hoạt động sưu tầm hiện vật, nghiên cứu và phát huy giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Kết quả là đã nghiên cứu sưu tầm và lưu giữ hơn 384 hiện vật văn hóa vật thể của đồng bào S’tiêng, Khmer, Chơro, Chăm, Thái, Mường, Sán Dìu…

vnp-do-van-tru.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đỗ Văn Trụ (giữa) tại một sự kiện trưng bày về di sản. (Ảnh: Mai Mai/Vietnam+)

Hiện, chúng ta còn có rất nhiều di sản phi vật thể của người thiểu số như: Hát Then, Xòe Thái… gắn liền với văn hóa và đời sống của đồng bào dân tộc ở khắp các vùng miền.

Tôi đánh giá trong suốt nhiều năm qua Đảng và Nhà nước đã dành nhiều sự quan tâm và ưu tiên với người dân tộc thiểu số nói chung, trong đó có bảo tồn, phát huy giá trị di sản của các dân tộc thiểu số.

Tôi cho rằng Dự án 6 là chủ trương rất đúng đắn và chúng ta đạt được thành tựu nhất định. Đương nhiên, vấn đề bảo tồn di sản văn hóa của các vùng dân tộc thiểu số ở ta còn gặp nhiều khó khăn. Di sản thì nhiều nhưng nguồn lực đầu tư có hạn.

Khó khăn nhất với chủ thể di sản hiện nay là vấn đề tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ di sản văn hóa cho đồng bào, làm sao để họ tự ý thức được trách nhiệm của mình trước kho tàng di sản. Chúng ta cũng khó khăn trong việc bồi dưỡng pháp luật của nhà nước về di sản cho người dân. Theo tôi, cần có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cho cộng đồng.

z7360579626308-f7b2844d2071bd5feffa30566b96ed84.jpg
Mang di sản Hát Then, đàn tính về phố. (Ảnh: TTXVN)

- Ông đánh giá thế nào về thực tế hoạt động trao truyền các giá trị di sản trong cộng đồng ở các vùng miền mà ông đi qua?

Giáo sư Đỗ Văn Trụ: Nhiều nơi tôi thấy có những mô hình rất hay, như việc truyền dạy Hát Then, Xòe Thái… nhưng đa số là tự phát, chưa thành chủ trương rộng rãi để cả cộng đồng có thể cùng tham gia.

Vì vậy, thời gian tới Nhà nước, cơ quan quản lý cần nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm và có kế hoạch, lộ trình hướng dẫn cụ thể chứ các cộng đồng không thể tự làm.

- Theo ông, làm sao để phát huy hơn nữa hiệu quả từ các di sản của đồng bào dân tộc thiểu số?

Giáo sư Đỗ Văn Trụ: Đã là di sản văn hóa thì trước hết phải do cộng đồng làm chủ, cộng đồng là người bảo vệ, phát huy và truyền dạy, còn Nhà nước chỉ định hướng chứ không làm thay được.

Do đó, tôi đề nghị trong thời gian tới, chính quyền các địa phương có chính sách khuyến khích đồng bào dân tộc thiểu số phát huy giá trị di sản văn hóa bằng việc tổ chức các câu lạc bộ, các lớp học để truyền dạy, tạo nguồn kinh phí hoạt động cho cộng đồng này…

vnp-ca-tru.jpg
Di sản ca trù trong dòng chảy đương đại, trở thành một phần của sản phẩm du lịch. (Ảnh: Mai Mai/Vietnam+)

Mặc dù hiện nhà nước đã có chính sách dành cho các nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú rồi nhưng cộng đồng nói chung thì chưa được hỗ trợ. Vì thế, chúng ta cần nguồn lực đầu tư nhất định mới có thể duy trì các hoạt động bảo tồn, truyền dạy di sản văn hóa trong cộng đồng. Bởi nếu không có cộng đồng thì không thể phát huy các giá trị di sản của đồng bào dân tộc thiểu số.

Bảo vệ di sản: Trách nhiệm không của riêng ai

- Bên cạnh việc các di sản văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được sự quan tâm của Nhà nước, năm nay Việt Nam có thêm 4 di sản được UNESCO vinh danh. Với tư cách là Chủ tịch hội Di sản văn hóa Việt Nam, ông đánh giá việc công nhận này có ý nghĩa thế nào trong định hướng phát triển quốc gia?

Giáo sư Đỗ Văn Trụ: Với tư cách là Chủ tịch hội Di sản Văn hóa Việt Nam, là người hoạt động trong lĩnh vực di sản văn hóa Việt Nam và với tư cách một công dân Việt Nam, tôi cảm thấy hết sức tự hào với nền văn hóa của dân tộc.

Một năm chúng ta có tới 4 di sản được UNESCO công nhận, điều đó cho thấy ý nghĩa và giá trị đặc biệt nổi trội của di sản đất nước, cho thấy thế giới rất quan tâm, đánh giá chính xác về tầm quan trọng của di sản Việt Nam.

Việt Nam hiện đang sở hữu kho tàng di sản văn hóa đồ sộ, phong phú và đa dạng, trong đó có 9 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; 11 di sản tư liệu được UNESCO công nhận là di sản ký ức…

d5a6717.jpg
d5a6724.jpg
d5a6761.jpg
d5a6772.jpg
Xòe Thái - Di sản Văn hóa Phi vật thể Đại diện Nhân loại. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Kho tàng này giúp cho mỗi người dân, mỗi du khách đến thăm quan đều cảm thấy tự hào, trân trọng những giá trị di sản văn hóa của dân tộc. Từ niềm tự hào, trân trọng đó cũng cần phải xác định trách nhiệm của mỗi người dân và cộng đồng trong việc bảo vệ di sản đó, bởi đây là việc rất lớn, không ai hay tổ chức, thậm chí riêng nhà nước có thể tự làm được, mà cần sự gắn kết giữa xã hội và nhà nước, với các nhà khoa học, cùng ý thức trách nhiệm của mỗi người dân.

- Theo ông, với những di sản được UNESCO vinh danh như vậy, chúng ta nên bảo tồn, định hướng phát triển ra sao để di sản tiếp tục phát huy được giá trị trong đời sống đương đại?

Giáo sư Đỗ Văn Trụ: Câu hỏi này cũng chính là vấn đề mà chúng tôi trăn trở. Việc đề nghị UNESCO vinh danh đã là khó rồi, vấn đề quan trọng hơn hết là bảo tồn, gìn giữ lâu dài và phát huy những giá trị di sản đó như thế nào.

Theo tôi, trước hết chúng ta phải có chương trình hành động, bảo vệ, phát huy giá trị; quảng bá để cho người dân trong nước, cộng đồng quốc tế biết đến. Đặc biệt là các địa phương có di sản, họ cần thay mặt Nhà nước, thay mặt thế giới quản lý di sản đó. Cần có chương trình hành động cụ thể, và Chính phủ phải phê duyệt chương trình hành động này. Thứ hai, cần quan tâm đầu tư xứng tầm với di sản thế giới.

Với Hội Di sản Văn hóa Việt Nam, là một tổ chức xã hội nghề nghiệp của những nhà hoạt động trong lĩnh vực di sản văn hóa với tất cả tâm huyết và tôn chỉ mục đích, chúng tôi hiện có cơ quan ngôn luận là Tạp chí Thế giới di sản luôn tích cực quảng bá, tuyên truyền và phản biện những vấn đề về di sản văn hóa dân tộc. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tăng cường giáo dục cho hội viên nhận thức sâu sắc hơn về các giá trị di sản, nâng cao ý thức bảo vệ di sản…

- Xin cảm ơn những chia sẻ của ông./.

ngay-hoi-van-hoa-dan-toc-muong-12.jpg
Hàng trăm đồng bào dân tộc Mường diễu hành trình diễn Chiêng Mường xung quanh khu vực Hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội) hồi tháng 11 vừa qua. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

"Non nước Cao Bằng" vinh dự đoạt giải thưởng toàn cầu

  Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng vinh dự là 1 trong 5 CVĐC trên thế giới được Giải thưởng “Mô hình hoạt động hiệu quả của Mạng lưới CVĐC toàn cầu UNESCO”. Hội nghị quốc tế lần thứ 11 của Mạng lưới Công viên địa chất (CVĐCTC) toàn cầu UNESCO (GGN) diễn ra tại Cộng hòa Chi-lê từ ngày 05 – 15/9. Hội nghị GGN lần thứ 11 quy tụ khoảng 1.000 đại biểu, gồm đại diện các CVĐC toàn cầu UNESCO, các CVĐC tiềm năng, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, chính khách và nhà quản lý. Đây là diễn đàn để các CVĐC gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu những mô hình hiệu quả, giải pháp thiết thực trong xây dựng và phát triển danh hiệu CVĐC theo tiêu chí của UNESCO. Hội nghị cũng khẳng định vai trò gắn kết của GGN trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Rất đông đại biểu, du khách ấn tượng không gian văn hóa Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tại Hội nghị GGN lần thứ 11. Tham dự Hội nghị, CVĐC Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng t...