Chuyển đến nội dung chính

Các di sản được UNESCO vinh danh - 'tấm hộ chiếu văn hóa' Việt

 

Các di sản được UNESCO vinh danh - 'tấm hộ chiếu văn hóa' Việt
Nghề làm tranh Đông Hồ được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể. (Ảnh: Hồng Hà)

(PLVN) - Ngày 9/12/2025, UNESCO đã thông qua quyết định ghi danh di sản Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ tỉnh Bắc Ninh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Việc nhiều di sản tiêu biểu của Việt Nam liên tiếp được UNESCO ghi danh không chỉ là niềm tự hào dân tộc, mà còn là minh chứng sinh động cho uy tín, kinh nghiệm và tầm vóc ngày càng được khẳng định của Việt Nam trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản trên trường quốc tế.

4 di sản được vinh danh trong năm 2025

Năm 2025, Việt Nam có tới bốn di sản tiêu biểu ở các loại hình lần đầu tiên được UNESCO vinh danh. Cụ thể, ngày 12/7/2025, Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi vào Danh mục Di sản văn hóa thế giới.

Đây là di sản văn hóa thế giới dạng chuỗi đầu tiên của Việt Nam (thuộc địa bàn 3 tỉnh, thành phố: Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hải Phòng) được UNESCO công nhận, khẳng định giá trị độc đáo, sống động và có tầm vóc toàn cầu của Phật giáo Trúc Lâm khởi nguồn từ dãy núi thiêng Yên Tử.

Ngày 13/7/2025, UNESCO đã thông qua điều chỉnh ranh giới Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng để bao gồm Vườn quốc gia Hin Nam Nô (Lào), với tên gọi: “Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và Vườn quốc gia Hin Nam Nô” trong Danh sách Di sản thế giới.

Ngày 10/4/2025, UNESCO ghi danh “Bộ sưu tập của Nhạc sĩ Hoàng Vân” vào Danh mục Ký ức thế giới.

Ngày 9/12/2025, UNESCO đã thông qua quyết định ghi danh di sản Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ (tỉnh Bắc Ninh) vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Nhìn lại hành trình hơn ba thập niên kể từ khi Quần thể di tích Cố đô Huế trở thành Di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận, có thể thấy bức tranh di sản Việt Nam đã không ngừng mở rộng cả về số lượng lẫn chiều sâu giá trị.

Từ những công trình kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên mang dấu ấn lịch sử lâu dài như Vịnh Hạ Long, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Quần thể danh thắng Tràng An, đến những thực hành văn hóa sống động gắn với cộng đồng như Nhã nhạc cung đình Huế, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt hay Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ… mỗi di sản đều là một lát cắt độc đáo của bản sắc Việt Nam, đồng thời góp phần làm phong phú thêm kho tàng di sản chung của nhân loại.

“Sức mạnh mềm” nâng cao vị thế quốc gia

Có thể khẳng định rằng, việc nhiều di sản văn hóa Việt Nam tiếp tục được UNESCO vinh danh không phải là thành quả ngẫu nhiên, mà là kết tinh của một quá trình dài hơi, kiên trì và có tầm nhìn. Các danh hiệu UNESCO cũng trở thành “tấm hộ chiếu văn hóa” giúp hình ảnh Việt Nam lan tỏa mạnh mẽ hơn ra thế giới. Mỗi di sản được vinh danh là một câu chuyện về lịch sử, con người và triết lý sống của dân tộc Việt, được kể bằng ngôn ngữ chung của nhân loại.

Một điểm nhấn quan trọng trong quá trình khẳng định tầm vóc di sản Việt Nam là sự chuyển biến trong tư duy bảo tồn. Nếu trước đây, bảo tồn thường được hiểu là giữ gìn nguyên trạng, thì ngày nay, Việt Nam ngày càng chú trọng đến bảo tồn động, gắn di sản với sinh kế của người dân và sự phát triển của địa phương. Nhiều mô hình phát huy giá trị di sản gắn với du lịch bền vững, giáo dục cộng đồng, sáng tạo văn hóa đã cho thấy hiệu quả tích cực.

Cộng đồng là chủ thể sáng tạo và gìn giữ di sản không còn đứng ngoài, mà trở thành trung tâm của mọi chiến lược bảo tồn. Mỗi danh hiệu UNESCO không chỉ là dấu mốc đáng nhớ mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn trong việc bảo vệ, phát huy giá trị di sản một cách xứng đáng. Đây cũng chính là tinh thần mà UNESCO luôn khuyến khích và đánh giá cao.

Từ góc độ đối ngoại văn hóa, các di sản được UNESCO ghi danh còn là cầu nối quan trọng trong quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia và tổ chức quốc tế. Thông qua hợp tác bảo tồn di sản, trao đổi chuyên gia, tổ chức triển lãm, festival, hội thảo quốc tế, Việt Nam vừa học hỏi kinh nghiệm, vừa chia sẻ câu chuyện thành công của mình, góp phần thúc đẩy đối thoại văn hóa, tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau. Di sản, theo cách đó, trở thành nguồn “sức mạnh mềm” quan trọng, nâng cao vị thế quốc gia trong một thế giới đa cực và nhiều biến động. 

Thùy Dương

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ năm 2000

Việt Nam được Ủy ban Sinh quyển và Con người thuộc UNESCO công nhận 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới gồm: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, 2000. Ranh giới thuộc Cần Giờ, (Tp HCM). Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ. UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 21/1/2000 với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn. Nơi đây được công nhận là một khu du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam. Hình thành Trước chiến tranh, Cần Giờ là khu rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú nhưng bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh. Năm 1978, Cần Giờ được sáp nhập về Thành phố Hồ Chí Minh, và năm 1979 UBND thành phố Hồ Chí Minh phát động chiến dịch trồng lại rừng Cần Giờ, thành lập Lâm trường Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ, thuộc Ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi...