Chuyển đến nội dung chính

Dấu ấn Việt Nam tại UNESCO: Từ hội nhập sang kiến tạo chính sách văn hóa

 VOV.VN - Năm 2025, Việt Nam đã ghi dấu ấn rõ nét theo xu hướng chuyển từ “tham gia” sang “đồng kiến tạo” các chuẩn mực, chương trình và sáng kiến văn hóa toàn cầu, thể hiện năng lực chủ động, trách nhiệm và vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.

Trong bối cảnh thế giới tiếp tục biến động nhanh, phức tạp và khó lường, văn hóa ngày càng được nhìn nhận như một “nguồn lực chiến lược” của phát triển bền vững. Nếu như trước đây, hợp tác văn hóa quốc tế chủ yếu dừng ở mức giao lưu, quảng bá, thì hiện nay, xu hướng nổi bật của nhiều quốc gia là chuyển từ “tham gia” sang “đồng kiến tạo” các chuẩn mực, chương trình và sáng kiến văn hóa toàn cầu. Năm 2025, Việt Nam đã ghi dấu ấn rõ nét theo xu hướng ấy, thể hiện năng lực chủ động, trách nhiệm và vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (BVHTTDL), một dấu ấn có ý nghĩa lịch sử trong năm qua là việc Đại hội đồng UNESCO thông qua sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững” vào ngày 8/11/2025. Sáng kiến được nêu trong báo cáo là kết quả từ đề xuất của Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng tại Hội nghị Thế giới về Chính sách Văn hóa và Phát triển bền vững do UNESCO tổ chức tại Tây Ban Nha. Việc UNESCO đồng thuận thông qua sáng kiến không chỉ là thành công về đối ngoại, mà còn phản ánh vai trò kiến tạo chính sách của Việt Nam trong các vấn đề văn hóa mang tầm toàn cầu.

Văn hóa trở thành trụ cột của phát triển bền vững

Trong nhiều năm qua, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận văn hóa là yếu tố quyết định sức mạnh mềm, năng lực gắn kết xã hội và bản sắc quốc gia. Tuy nhiên, việc đưa văn hóa vào các khuôn khổ chính sách phát triển bền vững vẫn là thách thức đối với nhiều quốc gia. Việc UNESCO thông qua “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững” được kỳ vọng sẽ tạo động lực để văn hóa được đặt đúng vị trí trong tiến trình thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs), nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu, xung đột, bất bình đẳng, khủng hoảng niềm tin và những hệ lụy xã hội do chuyển đổi công nghệ gây ra.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam không chỉ hưởng ứng mà còn đóng góp cụ thể bằng sáng kiến, thể hiện tư duy “đồng hành – cùng kiến tạo” với các tổ chức quốc tế. Đây là sự chuyển biến đáng chú ý, phù hợp với tinh thần hội nhập quốc tế chủ động, tích cực, sâu rộng trong tình hình mới; đồng thời góp phần củng cố vai trò của Việt Nam như một quốc gia “đề xuất giải pháp”, không chỉ là “người thụ hưởng”.

Theo Bộ VHTTDL, công tác văn hóa đối ngoại trong năm 2025 được Bộ triển khai theo hướng bài bản, đồng bộ và gắn chặt với hoạt động đối ngoại cấp cao của Đảng, Nhà nước. Nhiều chương trình, văn kiện hợp tác về văn hóa, thể thao và du lịch được tổ chức, ký kết trong các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao. Ở chiều sâu, BVHTTDL tiếp tục duy trì và mở rộng hợp tác với UNESCO, đặc biệt trong lĩnh vực bảo tồn di sản vật thể và phi vật thể.

Điều đáng chú ý là, khi Việt Nam tham gia hợp tác quốc tế về văn hóa, mục tiêu không chỉ dừng ở việc quảng bá, mà còn hướng tới bảo tồn có trách nhiệm, tuân thủ khuyến nghị quốc tế, đồng thời khai thác giá trị di sản như một nguồn lực phát triển. Đây cũng là cách để tăng sức cạnh tranh quốc gia trong thời đại kinh tế sáng tạo, khi giá trị văn hóa và di sản ngày càng gắn chặt với du lịch, truyền thông, nghệ thuật và các ngành công nghiệp nội dung.

Từ “dấu ấn UNESCO” tới hình ảnh quốc gia

BVHTTDL khẳng định đóng góp của ngành không chỉ ở phương diện tinh thần, mà còn ở việc “lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam”, “phát huy sức mạnh mềm quốc gia” và đồng hành cùng mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Những thành tựu văn hóa đối ngoại trong năm 2025 là một minh chứng cụ thể, cho thấy văn hóa Việt Nam đang được “đưa ra thế giới” theo cách hiện đại hơn – có chiến lược hơn – và có khả năng tạo ảnh hưởng tích cực.

Cùng với đó, Bộ VHTTDL nêu bật nhiệm vụ trọng tâm: tham mưu hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết “Về phát triển văn hóa Việt Nam”. Nếu được ban hành và triển khai hiệu quả, Nghị quyết này sẽ là “bệ đỡ” thể chế quan trọng, giúp tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo không gian phát triển mới, nâng cao năng lực quản trị văn hóa, đồng thời tạo nền tảng để Việt Nam tiếp tục tham gia sâu hơn vào việc thiết kế chính sách văn hóa mang tầm khu vực và quốc tế.

Có thể khẳng định, thành công tại UNESCO ngày 8/11/2025 là bước tiến cho thấy Việt Nam đang chuyển từ hội nhập “theo sau” sang hội nhập “chủ động dẫn dắt”, từ cách tiếp cận “giới thiệu” sang “đồng kiến tạo”. Đây cũng là một cách thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Trong giai đoạn 2026–2030, khi Việt Nam bước vào chu kỳ phát triển mới gắn với mục tiêu chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh, thì văn hóa sẽ càng đóng vai trò nền tảng. Việc Việt Nam khẳng định vai trò kiến tạo chính sách văn hóa toàn cầu không chỉ mang ý nghĩa đối ngoại, mà còn là yêu cầu nội tại: xây dựng hệ giá trị, bản lĩnh và sức mạnh mềm đủ lớn để đồng hành cùng đất nước trong hành trình phát triển bền vững.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

"Non nước Cao Bằng" vinh dự đoạt giải thưởng toàn cầu

  Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng vinh dự là 1 trong 5 CVĐC trên thế giới được Giải thưởng “Mô hình hoạt động hiệu quả của Mạng lưới CVĐC toàn cầu UNESCO”. Hội nghị quốc tế lần thứ 11 của Mạng lưới Công viên địa chất (CVĐCTC) toàn cầu UNESCO (GGN) diễn ra tại Cộng hòa Chi-lê từ ngày 05 – 15/9. Hội nghị GGN lần thứ 11 quy tụ khoảng 1.000 đại biểu, gồm đại diện các CVĐC toàn cầu UNESCO, các CVĐC tiềm năng, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, chính khách và nhà quản lý. Đây là diễn đàn để các CVĐC gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu những mô hình hiệu quả, giải pháp thiết thực trong xây dựng và phát triển danh hiệu CVĐC theo tiêu chí của UNESCO. Hội nghị cũng khẳng định vai trò gắn kết của GGN trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Rất đông đại biểu, du khách ấn tượng không gian văn hóa Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tại Hội nghị GGN lần thứ 11. Tham dự Hội nghị, CVĐC Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng t...