Chuyển đến nội dung chính

Di sản thế giới: Cơ hội và thách thức

 Sự kiện ngày 20/12/2025, khi UNESCO chính thức ghi danh Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc là Di sản Văn hóa thế giới, đã đánh dấu một cột mốc lịch sử mới cho văn hóa Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Với dấu mốc này, Quảng Ninh đã khẳng định vị thế là một "vùng đất di sản" độc nhất vô nhị, nơi hội tụ cả kỳ quan thiên nhiên lẫn tinh hoa tư tưởng của nhân loại.

Như chúng ta đã biết, Vịnh Hạ Long hai lần được UNESCO vinh danh (năm 1994 và 2000) về giá trị thẩm mỹ và địa chất, địa mạo. Đây là biểu tượng của vẻ đẹp thiên nhiên Việt Nam, một bảo tàng địa chất ngoài trời sống động đã tồn tại hàng trăm triệu năm. Nếu Vịnh Hạ Long là kiệt tác của tạo hóa, thì Yên Tử là kiệt tác của con người. Đây là nơi khai sinh dòng thiền Trúc Lâm thuần Việt, mang đậm tinh thần nhập thế và tư tưởng "Tam hòa" (hòa giải, hòa hợp, hòa bình). Việc UNESCO công nhận Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc vào tháng 7/2025 (sau 11 năm kể từ di sản Tràng An ở Ninh Bình) đã đưa giá trị văn hóa, lịch sử và tôn giáo của Việt Nam lên một tầm cao mới trên bản đồ quốc tế.

Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông tại tháp Huệ Quang được công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2020.
Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông tại tháp Huệ Quang được công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2020.

Vinh dự càng lớn, trách nhiệm càng nặng nề. Tỉnh Quảng Ninh hiện đang đứng trước những thách thức không nhỏ trong việc quản lý song hành hai loại hình di sản khác biệt: Một bên là di sản thiên nhiên với hệ sinh thái nhạy cảm, một bên là di sản văn hóa liên tỉnh với không gian tâm linh rộng lớn. Trách nhiệm của tỉnh không chỉ dừng lại ở việc giữ gìn những khối đá hay những ngôi chùa cổ, mà là bảo vệ giá trị nổi bật toàn cầu của chúng. Đó là bảo vệ tính toàn vẹn của cảnh quan Vịnh Hạ Long trước áp lực của du lịch và biến đổi khí hậu; đồng thời bảo vệ tính xác thực của không gian văn hóa Trúc Lâm Yên Tử - nơi các giá trị tinh thần vẫn đang "sống" và tiếp nối trong đời sống đương đại. Đặc biệt, với Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc, Quảng Ninh còn mang trách nhiệm phối hợp liên tỉnh (với Hải Phòng và Bắc Ninh) để tạo ra một cơ chế quản lý thống nhất, không tách rời.

Để phát huy giá trị và quản lý tốt hai di sản thế giới này, theo các chuyên gia về quản lý di sản, cần một chiến lược toàn diện và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị cùng cộng đồng. Đó là xây dựng cơ chế quản lý liên vùng, liên ngành. Cụ thể, đối với Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc, cần thực hiện nghiêm túc cơ chế phối hợp giữa Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hải Phòng. Xây dựng một kế hoạch quản lý tổng thể, hài hòa lợi ích giữa các địa phương nhưng vẫn đảm bảo tính thống nhất theo khuyến nghị của UNESCO.

Cùng với đó là ứng dụng khoa học công nghệ trong bảo tồn như sử dụng các công nghệ hiện đại để giám sát tác động của biến đổi khí hậu lên Vịnh Hạ Long và số hóa các tư liệu di sản tại Yên Tử. Việc bảo tồn cần dựa trên các bằng chứng khoa học và sự tư vấn của các chuyên gia quốc tế. Chuyển dịch từ du lịch số lượng sang du lịch chất lượng; gắn bảo tồn di sản với phát triển du lịch văn hóa, sinh thái bền vững, tránh tình trạng "thương mại hóa" làm biến dạng các giá trị nguyên bản (việc này, ngành du lịch Campuchia đã làm tốt từ nhiều năm đối với Di sản Văn hoá thế giới Angkor Wat). Cần coi trọng vai trò của cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của người dân trong việc gìn giữ, thực hành và lan tỏa các giá trị di sản, giúp họ được hưởng lợi trực tiếp từ việc bảo tồn.

Quần thể di tích Yên Tử và Vịnh Hạ Long không chỉ là tài sản của Quảng Ninh mà là báu vật của nhân loại. Với sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ và sự chủ động, kinh nghiệm của Quảng Ninh, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng những giá trị này sẽ không chỉ được giữ gìn cho hôm nay mà còn tỏa sáng cho muôn đời sau trong "kỷ nguyên mới" của đất nước.

Đại Dương

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ năm 2000

Việt Nam được Ủy ban Sinh quyển và Con người thuộc UNESCO công nhận 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới gồm: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, 2000. Ranh giới thuộc Cần Giờ, (Tp HCM). Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ. UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 21/1/2000 với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn. Nơi đây được công nhận là một khu du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam. Hình thành Trước chiến tranh, Cần Giờ là khu rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú nhưng bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh. Năm 1978, Cần Giờ được sáp nhập về Thành phố Hồ Chí Minh, và năm 1979 UBND thành phố Hồ Chí Minh phát động chiến dịch trồng lại rừng Cần Giờ, thành lập Lâm trường Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ, thuộc Ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi...