Chuyển đến nội dung chính

Kéo co - Từ Di sản thế giới đến những thách thức đương đại

 Hà Nội (TTXVN 25/11/2025) Đã tròn 10 năm kể từ khi Nghi lễ và trò chơi kéo co được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2015). Và ít ngày trước, trong khuôn khổ Festival Thăng Long - Hà Nội 2025, các đại diện từ 4 quốc gia cùng sở hữu danh hiệu này (Việt Nam, Hàn Quốc, Philippines, Campuchia) đã có dịp "ngồi lại" để giao lưu, bàn thảo cùng nhau.

1. Theo TS Lê Thị Minh Lý, Phó Chủ tịch Hội Di sản Văn hóa Việt Nam, có thể nói di sản kéo co là 1 trong những bài học thành công của việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, với sự tham gia hiểu biết và tự chủ của cộng đồng. 10 năm qua, từ chỗ 6 cộng đồng thực hành nghi lễ và trò chơi kéo co năm 2015, đến nay tại Việt Nam đã có thêm 4 cộng đồng nữa được phát hiện, nghiên cứu và sẽ đề xuất để bổ sung.

Nghi lễ và trò chơi kéo co ngồi tại đền Trấn Vũ (Long Biên, Hà Nội) với sợi dây kéo làm từ song.

"Về thực hành di sản và vai trò của chủ thể, tất cả các cộng đồng đều đang thực hành tốt, kể cả các cộng đồng mới được phát hiện. Bởi hơn bao giờ hết, họ hiểu di sản là của ông cha họ, là sự may mắn và sức mạnh của họ, là niềm vui của con trẻ và hạnh phúc của họ" - bà Lý nói.

Tại Hàn Quốc, ông Gu Eun-mo, Chủ tịch Hội Bảo tồn kéo co Gijisi, cho biết 19 liên minh được thành lập và nhận được hỗ trợ từ Cục Di sản Văn hóa Hàn Quốc sau khi ghi danh đã tích cực triển khai các hoạt động như tổ chức biểu diễn, hội thảo nâng cao năng lực, xuất bản báo cáo khảo sát, phát triển chương trình giáo dục và giao lưu quốc tế với Việt Nam. Hoạt động của liên minh này đã mang lại tác động tích cực, đồng thời giúp thực hiện hiệu quả hơn sự hỗ trợ của Cục Di sản Văn hóa Hàn Quốc và nâng cao năng lực các cộng đồng truyền dạy.

Rộng hơn, các chuyên gia trong nước và quốc tế đều cho rằng "kết nối" chính là từ khóa về thành công của cộng đồng kéo co của 4 quốc gia suốt 10 năm qua trong công tác bảo tồn di sản. Điển hình, theo bà Lê Thị Ánh Mai (Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội), sau 10 năm được ghi danh, sự kết nối giữa Việt Nam với Hàn Quốc, Campuchia, Philippines đã mở ra một không gian giao lưu văn hóa rộng mở, tôn vinh sự đa dạng bản sắc văn hóa, vun đắp hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững trong khu vực.

Thực hành nghi lễ và trò chơi kéo co ngồi tại đền Trấn Vũ (Long Biên, Hà Nội).

Dù vậy, theo các chuyên gia, di sản kéo co cũng đang đối diện nhiều thách thức. Ông Vũ Hồng Phi (Phó Tiểu ban quản lý di tích đền Trấn Vũ, phường Long Biên, Hà Nội - nơi hằng năm diễn ra hội kéo co ngồi nổi tiếng) cho biết: Lực lượng có khả năng tham gia thi đấu tại đây chủ yếu là thanh niên đang đi học hoặc làm việc xa quê. Vì thế, việc duy trì hoạt động thường xuyên trong cộng đồng gặp khó khăn do thiếu người luyện tập và tham gia.

Theo TS Lê Thị Minh Lý, thách thức với di sản kéo co tại đô thị - như trường hợp Long Biên - gắn với sự phát triển của đô thị làm mất đi không gian thực hành di sản. Do vậy, cần có sự hỗ trợ của cộng đồng để giữ gìn không gian cho kéo co. Xa hơn, công tác giáo dục di sản trong nhà trường và trong cộng đồng cũng rất quan trọng, để giúp thế hệ trẻ ở địa phương biết về di sản quê hương mình.

Tương tự, theo ông Gu Eun-mo, kéo co dựa vào cộng đồng địa phương. Và tại xã hội Hàn Quốc, tình trạng dân số giảm cũng như già hóa dân số có thể gây khó khăn trong việc truyền dạy kéo co cho thế hệ tiếp theo.

Ở góc độ rộng, ông Park Woenmo, chuyên gia di sản văn hóa phi vật thể châu Á - Thái Bình Dương, phân tích: Sự già hóa lực lượng truyền dạy, việc thanh niên rời làng, không gian tổ chức thu hẹp, các quy định an toàn được siết chặt cùng với việc đơn giản hóa hoặc lược bỏ các nghi lễ nông nghiệp… đều trở thành rào cản trong việc bảo vệ kéo co như một di sản sống.

2. Có thể thấy, trong tương lai, Hàn Quốc, Việt Nam, Campuchia, Philippines đều phải đối mặt với thách thức lớn do đô thị hóa, công nghiệp hóa và già hóa các cộng đồng ở khu vực nông nghiệp - nơi kéo co chủ yếu diễn ra.

Giao lưu kéo co trong khuôn khổ Festival Thăng Long - Hà Nội 2025.

Và kinh nghiệm từ các cộng đồng quốc tế đang nắm giữ di sản này cho thấy việc thúc đẩy giáo dục di sản trong các trường học hay gắn di sản với hoạt động du lịch chính là 1 trong những chìa khóa quan trọng mở ra cơ hội để nó phát huy giá trị trong đời sống đương đại. Tuy nhiên, để kéo co thực sự trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống, cần có sự chung tay của các cộng đồng đang nắm giữ di sản này.

Ông Huh Kwon, nguyên Tổng Giám đốc Trung tâm Thông tin và Mạng lưới quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đưa ra ví dụ tiêu biểu về kết nối di sản kéo co với phát triển du lịch. Theo ông, Bảo tàng Kéo co Gijisi (Hàn Quốc) là nơi thường tổ chức các chương trình giáo dục di sản, các lễ hội kéo co có sự tham gia của người dân và du khách. Tại đây, du lịch kết nối với di sản kéo co đã góp phần phát triển kinh tế địa phương và cộng đồng được hưởng lợi. Mô hình này được xem như "hệ thống kết hợp bảo tồn - giáo dục - du lịch" từ di sản, có thể áp dụng cho các quốc gia khác nhằm phát triển du lịch bền vững từ lễ hội kéo co dựa trên cộng đồng địa phương.

Chuyên gia này cho rằng cả 4 quốc gia đều có tiềm năng biến di sản truyền thống thành tài nguyên du lịch thông qua các hoạt động như lễ hội kéo co Gijisi tại Dangjin, hội thi kéo co ở Siem Reap (Campuchia), lễ hội địa phương tại Bacolod (Philippines) và lễ hội kéo co tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức lễ hội cần thiết lập cơ chế đảm bảo thương mại hóa không làm tổn hại giá trị truyền thống, với cộng đồng đóng vai trò trung tâm trong việc lập kế hoạch và phân phối lợi nhuận. "Trong đó, mô hình hiệu quả là một phần lợi nhuận được tái đầu tư cho việc giáo dục di sản và phát triển kinh tế, văn hóa địa phương", ông Huh Kwon nói...

Không dễ tìm dây kéo co truyền thống

Theo nhiều chuyên gia, sự suy giảm của các nguồn nguyên liệu tự nhiên đang ảnh hưởng đến việc làm dây kéo co truyền thống. Điển hình, theo ông Vũ Hồng Phi, kéo co ở đền Trấn Vũ thường sử dụng dây song dài 20 - 30m, đường kính 5cm, được ngâm giếng cả tháng để đạt độ dẻo và bền. Tuy nhiên, hiện tại, việc kiếm được loại dây này không đơn giản.

Tương tự, theo bà Chey Chankethya (đại diện cộng đồng kéo co của Campuchia), trước đây dây kéo được làm từ sợi tự nhiên như gai dầu, mây hoặc các loại thực vật địa phương, có giá trị về độ bền và sự gắn kết biểu tượng với thiên nhiên. Tuy nhiên, do nạn phá rừng, suy thoái môi trường và việc giảm sử dụng thủ công truyền thống, nguồn nguyên liệu này đã giảm sút; cộng đồng thường sử dụng dây có chất liệu tổng hợp, khiến trò chơi mất đi gốc rễ tự nhiên và văn hóa.

Ngân Lượng (Báo Thể thao và Văn hóa/TTXVN)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

"Non nước Cao Bằng" vinh dự đoạt giải thưởng toàn cầu

  Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng vinh dự là 1 trong 5 CVĐC trên thế giới được Giải thưởng “Mô hình hoạt động hiệu quả của Mạng lưới CVĐC toàn cầu UNESCO”. Hội nghị quốc tế lần thứ 11 của Mạng lưới Công viên địa chất (CVĐCTC) toàn cầu UNESCO (GGN) diễn ra tại Cộng hòa Chi-lê từ ngày 05 – 15/9. Hội nghị GGN lần thứ 11 quy tụ khoảng 1.000 đại biểu, gồm đại diện các CVĐC toàn cầu UNESCO, các CVĐC tiềm năng, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, chính khách và nhà quản lý. Đây là diễn đàn để các CVĐC gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu những mô hình hiệu quả, giải pháp thiết thực trong xây dựng và phát triển danh hiệu CVĐC theo tiêu chí của UNESCO. Hội nghị cũng khẳng định vai trò gắn kết của GGN trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Rất đông đại biểu, du khách ấn tượng không gian văn hóa Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tại Hội nghị GGN lần thứ 11. Tham dự Hội nghị, CVĐC Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng t...