Chuyển đến nội dung chính

Phong Nha-Kẻ Bàng: Hướng đến danh hiệu quốc tế mới

 QTO - Mới đây, Thường trực Tỉnh ủy Quảng Trị đã đồng ý chủ trương để UBND tỉnh trình hồ sơ đề cử Khu dự trữ sinh quyển (KDTSQ) thế giới Phong Nha-Kẻ Bàng (PN-KB) theo đề xuất của Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh. Nếu thuận lợi, PN-KB sẽ được UNESCO xem xét công nhận danh hiệu KDTSQ thế giới trong năm 2026. Đây sẽ là một trong những đóng góp quan trọng nhằm củng cố và tăng cường vị thế quốc tế của di sản, tạo thêm động lực mới, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của tỉnh.

Trưởng phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Ban Quản lý Vườn Quốc gia PN-KB Lê Thúc Định cho hay, KDTSQ thế giới PN-KB được xây dựng có tổng diện tích 515.830ha, quy mô dân số là 159.325 người. Trong đó, vùng lõi 123.326ha, vùng đệm 220.055ha, vùng chuyển tiếp 172.449ha. Vùng lõi là toàn bộ diện tích vùng lõi của Vườn Quốc gia PN-KB, thuộc địa phận 5 xã, gồm: Bố Trạch, Kim Điền, Kim Phú, Phong Nha và Thượng Trạch. Vùng đệm là toàn bộ diện tích vùng đệm của Vườn Quốc gia PN-KB, thuộc địa phận 7 xã, gồm: Phong Nha, Thượng Trạch, Dân Hóa, Trường Sơn, Kim Phú, Kim Điền và Bố Trạch. Vùng chuyển tiếp thuộc địa phận của 10 xã, gồm: Tân Thành, Minh Hóa, Tuyên Lâm, Tuyên Sơn, Tuyên Phú, Tuyên Hóa, Đồng Lê, Kim Phú, Kim Điền và Kim Ngân…

“Khi một khu vực được công nhận là KDTSQ thế giới sẽ có được rất nhiều lợi ích khác nhau, bao gồm cả quá trình đóng góp cho đất nước trong việc thực hiện các cam kết quốc tế, góp phần đạt được các mục tiêu về phát triển kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học cho địa phương…”, ông Lê Thúc Định thông tin.

Quang cảnh Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng - Ảnh: N.H
Quang cảnh Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng - Ảnh: N.H

Danh hiệu KDTSQ thế giới sẽ mang lại nhiều tác động tích cực cho Vườn Quốc gia PN-KB. Trong đó góp phần bảo vệ một trong những khu vực karst nhiệt đới lớn nhất và cổ nhất thế giới, với hệ thống hơn 447 hang động, nhiều loài động thực vật đặc hữu và quý hiếm; duy trì các hệ sinh thái rừng nguyên sinh trên núi đá vôi, rừng thường xanh và hệ sinh thái sông ngầm, hang động; ngăn chặn suy thoái, mất môi trường sống và giảm áp lực khai thác tài nguyên quá mức; hỗ trợ bảo vệ các giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia PN-KB.

Danh hiệu này cũng sẽ giúp thu hút khách du lịch trong và nước ngoài, tạo nguồn thu và việc làm cho cộng đồng địa phương thông qua du lịch sinh thái, mạo hiểm, dịch vụ homestay; thúc đẩy các mô hình sinh kế xanh, như: Sản xuất nông-lâm sản bền vững; nuôi trồng dược liệu, sản phẩm OCOP; tăng khả năng tiếp cận các nguồn vốn, dự án hỗ trợ từ quốc tế và các tổ chức bảo tồn…

Ngoài ra, đây là địa bàn quan trọng cho nghiên cứu liên ngành về địa chất, sinh học, khí hậu và văn hóa bản địa; tạo điều kiện tổ chức các chương trình giáo dục môi trường, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn và phát triển bền vững.

Đây còn là cơ hội để mở rộng hợp tác với các KDTSQ, vườn quốc gia, tổ chức bảo tồn khác trên thế giới; trao đổi kinh nghiệm quản lý, bảo tồn, giám sát môi trường và phát triển du lịch bền vững; thu hút các chương trình nghiên cứu, đào tạo và đầu tư quốc tế; khẳng định giá trị toàn cầu của PN-KB không chỉ là Di sản thiên nhiên thế giới mà còn là mô hình mẫu về quản lý tổng hợp tài nguyên và phát triển bền vững; tăng sức hút truyền thông, quảng bá hình ảnh tỉnh Quảng Trị và PN-KB ra thế giới…

Ngọc Hải

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...