Chuyển đến nội dung chính

Sơn La có điều kiện xác lập Khu dự trữ sinh quyển theo tiêu chí của UNESCO

 Với diện tích rừng lớn, hệ sinh thái đa dạng và vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh sinh thái vùng Tây Bắc, tỉnh Sơn La đang từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống căn cứ khoa học, thực tiễn, phục vụ đề xuất xác lập Khu dự trữ sinh quyển thế giới theo tiêu chí của UNESCO.

Sơn La có diện tích rừng lớn, đa dạng sinh học

Sơn La có diện tích tự nhiên hơn 1,4 triệu ha, tỷ lệ che phủ rừng khoảng 48%. Đây là địa phương đứng thứ nhất khu vực Trung du và miền núi phía Bắc và đứng thứ ba cả nước về diện tích rừng, được ví như “lá phổi xanh” của vùng Tây Bắc.

Không chỉ giữ vai trò phòng hộ đầu nguồn cho các công trình thủy điện lớn trên sông Đà, rừng Sơn La còn là không gian sinh tồn, gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa, sinh kế của gần 85% dân số nông thôn trong tỉnh.

Ông Nguyễn Thành Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La phát biểu tại Hội nghị tổng quan về tài nguyên rừng và định hướng phát triển lâm nghiệp bền vững của tỉnh Sơn La. Ảnh: Văn Ngọc

Theo ông Nguyễn Thành Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La, với quy mô rừng lớn cùng hệ sinh thái đặc trưng của vùng núi cao Tây Bắc, Sơn La đang khẳng định vị thế là một trong những trung tâm đa dạng sinh học quan trọng của khu vực. Đây chính là nền tảng để tỉnh định hướng xây dựng hồ sơ đề cử xác lập Khu dự trữ sinh quyển theo chương trình Con người và sinh quyển (MAB) của UNESCO.

Khu vực nghiên cứu dự kiến có quy mô khoảng 190.000 ha, được xác định là “mắt xích” quan trọng kết nối các hệ sinh thái lớn của vùng Tây Bắc. Phía Bắc và phía Đông kết nối hành lang sinh thái liên tỉnh với Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải (Lào Cai) và khu vực Trạm Tấu, tạo điều kiện cho các loài động vật hoang dã di cư, trao đổi nguồn gen trên phạm vi rộng của dãy Hoàng Liên Sơn. Phía Tây tiếp giáp hệ thống lòng hồ thủy điện Sơn La và Hòa Bình – vùng đất ngập nước quan trọng cấp quốc gia, hình thành chuỗi hệ sinh thái liên hoàn từ rừng – nông nghiệp – đất ngập nước.

Ông Trần Dũng Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La phát biểu tại Hội nghị tổng quan về tài nguyên rừng và định hướng phát triển lâm nghiệp bền vững của tỉnh Sơn La. Ảnh: Văn Ngọc

Theo ông Nguyễn Huy Tuấn, Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Sơn La, qua khảo sát, điều tra, đánh giá tiềm năng tại khu vực đề xuất, nhiều giá trị nổi bật về đa dạng sinh học đã được ghi nhận.

Riêng Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường La (dự kiến là vùng lõi 1) với diện tích 17.897 ha đã thống kê được 1.015 loài thực vật, trong đó có 79 loài quý hiếm; 76 loài thú, 191 loài chim, 57 loài bò sát, 37 loài lưỡng cư cùng 265 loài côn trùng, nhiều loài nằm trong Danh lục đỏ IUCN, Sách đỏ Việt Nam và các nghị định bảo vệ hiện hành.

Khu rừng đặc dụng Tà Xùa (dự kiến vùng lõi 2) rộng 16.956 ha cũng cho thấy sự phong phú vượt trội với 782 loài thực vật, 60 loài thú, 215 loài chim, cùng hàng chục loài bò sát, lưỡng cư quý hiếm.

Đặc biệt, khu vực rừng tiếp giáp giữa Mường La và Tà Xùa (dự kiến vùng lõi 3) tại các xã Ngọc Chiến, Chiềng Hoa, Xím Vàng được đánh giá có mức độ đa dạng sinh học cao, tính toàn vẹn sinh thái lớn, đại diện tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm đến ôn đới vùng núi cao Tây Bắc Việt Nam.

Ông Nguyễn Huy Tuấn, Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Sơn La phát biểu tại Hội nghị tổng quan về tài nguyên rừng và định hướng phát triển lâm nghiệp bền vững của tỉnh Sơn La. Ảnh: Văn Ngọc

Nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc từ giữ, phát triển rừng

Không chỉ dừng ở bảo tồn, các chuyên gia cho rằng Sơn La còn có tiềm năng lớn để phát triển sinh kế bền vững gắn với rừng. TS. Phạm Thanh Hải, chuyên gia nông nghiệp, nguyên Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Bộ, phân tích: Phát triển nông nghiệp hữu cơ trên đất dốc, cây ăn quả, dược liệu, kết hợp du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng là hướng đi phù hợp, vừa bảo vệ tài nguyên rừng, vừa tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.

PGS Vương Xuân Tình - Nguyên Viện trưởng Viện Dân tộc học và Tôn giáo học, Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam cho biết: Sơn La là một trong những địa phương có cơ cấu dân tộc đa dạng, với nhiều cộng đồng dân tộc cùng sinh sống lâu đời, mỗi tộc người mang trong mình những giá trị văn hóa riêng biệt, độc đáo và giàu bản sắc. Chính sự đa dạng ấy tạo nên “nguồn tài nguyên văn hóa sống” vô cùng quý giá, có ý nghĩa đặc biệt trong phát triển du lịch bền vững và hỗ trợ vận hành hiệu quả mô hình Khu dự trữ sinh quyển.

Trong bối cảnh xây dựng Khu sinh quyển, bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ góp phần làm giàu giá trị nhân văn cho khu vực bảo tồn mà còn giúp gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn thiên nhiên với bảo tồn văn hóa. Các tri thức bản địa về rừng, nông nghiệp, sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hài hòa của đồng bào các dân tộc là nền tảng quan trọng để duy trì sự cân bằng sinh thái và phát triển bền vững.

Với sự đông đảo các dân tộc như vậy, Sơn La có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch nông nghiệp, lâm nghiệp gắn với du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng trong không gian Khu sinh quyển. Nếu được tổ chức bài bản, các mô hình này không chỉ tạo ra những sản phẩm du lịch đặc thù, khác biệt, mà còn mang lại thu nhập ổn định, thậm chí cao hơn cho người nông dân. Quan trọng hơn, người dân sẽ trở thành chủ thể của quá trình phát triển, vừa bảo vệ rừng, giữ gìn bản sắc văn hóa, vừa trực tiếp hưởng lợi từ các giá trị mà Khu sinh quyển mang lại.

Các đại biểu tham dự Hội nghị tổng quan về tài nguyên rừng và định hướng phát triển lâm nghiệp bền vững của tỉnh Sơn La. Ảnh: Văn Ngọc

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Công nhấn mạnh: xây dựng hồ sơ Khu dự trữ sinh quyển là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cần sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống. Giao Sở Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục tham vấn các bộ, ngành, chuyên gia để hoàn thiện cơ sở khoa học, đối chiếu đầy đủ các tiêu chí của UNESCO.

UBND các xã tập trung bảo vệ rừng, giữ vững hiện trạng, phát triển các mô hình OCOP, du lịch sinh thái làm nền tảng sinh kế cho vùng đệm. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tích hợp giá trị văn hóa bản địa của khu sinh quyển vào hồ sơ và chiến lược quảng bá. Sở Tài chính cân đối nguồn lực phục vụ công tác lập hồ sơ, bảo tồn và phục hồi rừng.

Xây dựng hồ sơ Khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Sơn La được xác định là chặng đường dài, đòi hỏi sự kiên trì, đồng thuận và phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành. Tuy nhiên, với tiềm năng sẵn có và quyết tâm chính trị cao, Sơn La đang từng bước khẳng định khát vọng gìn giữ “lá phổi xanh” Tây Bắc, hướng tới phát triển hài hòa giữa con người và thiên nhiên theo tiêu chí quốc tế.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

"Non nước Cao Bằng" vinh dự đoạt giải thưởng toàn cầu

  Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng vinh dự là 1 trong 5 CVĐC trên thế giới được Giải thưởng “Mô hình hoạt động hiệu quả của Mạng lưới CVĐC toàn cầu UNESCO”. Hội nghị quốc tế lần thứ 11 của Mạng lưới Công viên địa chất (CVĐCTC) toàn cầu UNESCO (GGN) diễn ra tại Cộng hòa Chi-lê từ ngày 05 – 15/9. Hội nghị GGN lần thứ 11 quy tụ khoảng 1.000 đại biểu, gồm đại diện các CVĐC toàn cầu UNESCO, các CVĐC tiềm năng, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, chính khách và nhà quản lý. Đây là diễn đàn để các CVĐC gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu những mô hình hiệu quả, giải pháp thiết thực trong xây dựng và phát triển danh hiệu CVĐC theo tiêu chí của UNESCO. Hội nghị cũng khẳng định vai trò gắn kết của GGN trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Rất đông đại biểu, du khách ấn tượng không gian văn hóa Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tại Hội nghị GGN lần thứ 11. Tham dự Hội nghị, CVĐC Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng t...