Chuyển đến nội dung chính

Sức sống của tri thức bản địa trong ứng phó biến đổi khí hậu

 Công trình nghiên cứu về tri thức bản địa của người Hà Nhì (Lào Cai) được UNESCO công bố góp thêm minh chứng sinh động cho mối liên hệ giữa di sản văn hóa và hành động khí hậu. 

Nhóm nghiên cứu tại hội thảo về di sản văn hoá phi vật thể và biến đổi khí hậu.
Nhóm nghiên cứu tại hội thảo về di sản văn hoá phi vật thể và biến đổi khí hậu.

Công trình nghiên cứu mang tên “Khám phá giá trị di sản của tri thức bản địa về sử dụng và quản lý bền vững tài nguyên rừng của người Hà nhì ở tỉnh Lào Cai, Việt Nam, trong bối cảnh biến đổi khí hậu”, do Tiến sĩ Lưu Đàm Ngọc Anh (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam) chủ trì. Công trình mới đây được xuất bản trong ấn phẩm mới của UNESCO mang tên “Bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể và Hành động khí hậu tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương”.

Theo UNESCO, trong bối cảnh khí hậu toàn cầu ngày càng biến động tiêu cực gây nhiều tổn thất trên phương diện toàn cầu, nhiều cộng đồng đã tìm lại cũng như dựa vào nguồn tri thức - thực hành di sản để ứng dụng vào giải pháp ứng phó và giảm nhẹ thiên tai. Đây là cách tiếp cận vừa góp phần gìn giữ văn hóa bản địa, vừa bảo đảm sự tiếp nối qua nhiều thế hệ, đồng thời thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa bảo tồn di sản và bảo vệ môi trường. Tri thức bản địa đã được quốc tế công nhận là một công cụ hiệu quả trong việc tăng cường khả năng ứng phó biến đổi khí hậu.

Công trình của Tiến sĩ Lưu Đàm Ngọc Anh và nhóm nghiên cứu về người Hà Nhì tại Lào Cai đã làm nổi bật những giá trị của tri thức bản địa được truyền lại qua nhiều thế hệ trong các cộng đồng, là sự tương tác giữa di sản văn hóa, trí tuệ sinh thái và các thách thức môi trường hiện nay. Hệ thống tri thức này tồn tại giúp các cộng đồng vượt qua những thách thức trong nhiều thế kỉ, tiếp tục phát huy tác dụng trong bối cảnh mới và khẳng định vai trò của kiến ​​thức sinh thái truyền thống trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững.

Nghiên cứu nhận được sự hỗ trợ kinh phí từ “Chương trình hỗ trợ nghiên cứu dành cho cán bộ trẻ” của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra nghiên cứu tại xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (cũ) về tri thức sử dụng và quản lý tài nguyên rừng của người Hà Nhì đen tại khu vực. Tại đây, đồng bào Hà Nhì đã duy trì độ che phủ rừng, bảo vệ diện tích rừng nguyên sinh một phần nhờ vào hệ thống luật tục, tín ngưỡng và tri thức thực vật dân tộc học có giá trị. Họ phân loại rừng thành nhiều nhóm theo mục đích, trong đó rừng thiêng đóng vai trò quan trọng trong điều tiết nguồn nước, chống xói mòn và giữ gìn đa dạng sinh học, và được bảo vệ nghiêm ngặt bằng các luật tục làng bản kết hợp với các quy định về quản lý sử dụng rừng của Nhà nước.

Những tri thức này phản ánh sự gắn bó mật thiết giữa con người và thiên nhiên, đồng thời chứng minh rằng di sản văn hóa phi vật thể có thể trở thành giải pháp thiết thực trong ứng phó biến đổi khí hậu. Nhờ đó, cộng đồng Hà Nhì đã giảm thiểu đáng kể tác động của các hiện tượng khắc nghiệt như lũ quét, sạt lở, đồng thời gìn giữ nguồn nước và rừng đầu nguồn điều hòa khí hậu.

Nghiên cứu được UNESCO lựa chọn công bố bởi tính độc đáo, phương pháp tiếp cận liên ngành - kết hợp nghiên cứu thực vật học và nhân học - nhằm làm rõ vai trò của di sản vừa là nguồn lực tinh thần, vừa là cơ sở vật chất giúp cộng đồng tăng cường sức chống chịu trước tác động của biến đổi khí hậu.

Công trình xuất hiện trong ấn phẩm quốc tế của UNESCO không chỉ khẳng định uy tín học thuật của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, mà còn cho thấy tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học đa ngành trong việc kết nối di sản với hành động khí hậu, định hình những chiến lược phát triển bền vững, hài hòa giữa bảo tồn tri thức, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

UNESCO là gì? Việt Nam có những di sản nào được UNESCO công nhận

UNESCO là một cụm từ được nhiều người biết tới khi có chức năng công nhận các di sản văn hóa trên thế giới. Vậy, UNESCO là gì? Việt Nam đã có những di sản nào được UNESCO công nhận? Tổ chức UNESCO là gì? UNESCO là tên gọi viết tắt của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO).  UNESCO là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hợp quốc, được thành lập với mục đích "thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo" (trích Công ước thành lập UNESCO). UNESCO hiện đã có mặt trên 191 quốc gia thành viên và trụ sở chính đặt tại Pháp, với hơn 50 văn phòng và các trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới, một trong các dự án của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới. Một trong những hoạt động nổi bật của UNESCO...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...