Chuyển đến nội dung chính

Triển lãm giới thiệu hình ảnh khoa cử Việt Nam cuối thế kỷ XIX

 Sáng 6/11, Triển lãm ảnh "Khoa thi Hương cuối thế kỷ XIX" đã khai mạc tại Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám, giới thiệu tới công chúng bộ ảnh quý của nhiếp ảnh gia người Pháp Firmin-André Salles, phản ánh sinh động nền giáo dục khoa bảng Việt Nam cuối thế kỷ XIX.

Tham dự lễ khai mạc có ông Eric Soulier, Tham tán Hợp tác và hoạt động văn hóa của Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, Giám đốc Viện Pháp tại Việt Nam; ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam; đại diện Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội cùng đông đảo giới chuyên môn, công chúng yêu di sản.

Triển lãm giới thiệu hình ảnh khoa cử Việt Nam cuối thế kỷ XIX - Ảnh 1.

Ông Eric Soulier, Tham tán Hợp tác và hoạt động văn hóa của Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, Giám đốc Viện Pháp tại Việt Nam phát biểu tại Lễ khai mạc. Ảnh: Tuyết Mai - TTXVN

Phát biểu khai mạc, Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám Lê Xuân Kiêu cho biết, Triển lãm là kết quả hợp tác giữa Trung tâm và Viện Pháp tại Việt Nam, với sự đồng hành của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội. Sự kiện diễn ra dúng dịp Văn Miếu - Quốc Tử Giám kỷ niệm 950 năm khoa thi đầu tiên "Minh kinh bác học" dưới triều vua Lý Nhân Tông để chọn bậc hiền tài cho đất nước. Triển lãm hướng tới Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, góp phần tôn vinh truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc.

Triển lãm giới thiệu hình ảnh khoa cử Việt Nam cuối thế kỷ XIX - Ảnh 2.

Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám Lê Xuân Kiêu phát biểu tại lễ khai mạc. Ảnh: Tuyết Mai - TTXVN

Triển lãm không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn gợi mở suy ngẫm về đạo học và tinh thần trọng tri thức. Không gian trưng bày được mở rộng ra bên ngoài hàng rào di tích, giúp người dân, du khách dễ dàng tiếp cận. Đây là lần đầu tiên Văn Miếu tổ chức triển lãm theo hình thức này nhằm đưa nghệ thuật và lịch sử đến gần hơn với công chúng. Ông hy vọng triển lãm sẽ truyền cảm hứng học tập suốt đời, gắn với 4 trụ cột giáo dục của UNESCO: Học để biết, học để làm, học để hoàn thiện bản thân và học để cùng chung sống.

Triển lãm giới thiệu hình ảnh khoa cử Việt Nam cuối thế kỷ XIX - Ảnh 3.

Các đại biểu tham dự triển lãm. Ảnh: Tuyết Mai - TTXVN

Theo ông Eric Soulier, Tham tán Hợp tác và hoạt động văn hóa của Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, Giám đốc Viện Pháp tại Việt Nam, Triển lãm tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám là biểu tượng mạnh mẽ cho sự giao thoa giữa không gian di sản và nghệ thuật nhiếp ảnh. Các tác phẩm được trưng bày trong khung tre lấy cảm hứng từ kiến trúc trường thi xưa, dọc theo tường Văn Miếu - biểu tượng của Nho giáo và cũng là di tích văn hóa lịch sử của kinh đô Thăng Long xưa. Những bức ảnh của André Salles tái hiện chân thực không khí trang nghiêm nhưng náo nhiệt của các kỳ thi Hương năm 1897 tại Nam Định, giữa thời điểm Nho học đang dần suy tàn và chữ Hán được thay thế bởi chữ Quốc ngữ.

Triển lãm giới thiệu hình ảnh khoa cử Việt Nam cuối thế kỷ XIX - Ảnh 4.

Các đại biểu tham quan triển lãm ảnh và nghe giới thiệu về các tác phẩm. Ảnh: Tuyết Mai - TTXVN

Firmin-André Salles (1860-1929) là nhiếp ảnh gia, nhà thám hiểm người Pháp, từng làm việc tại Việt Nam, Lào và Campuchia giai đoạn 1896-1898. Với kỹ thuật nhiếp ảnh bảng khô, ông đã ghi lại những hình ảnh có độ sắc nét và chi tiết vượt trội, để lại nhiều tác phẩm có giá trị tư liệu, nghệ thuật cao, ghi lại cảnh quan, con người và đời sống Việt Nam cuối thế kỷ XIX.

Triển lãm giới thiệu hình ảnh khoa cử Việt Nam cuối thế kỷ XIX - Ảnh 5.

Ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam phát biểu tại Lễ khai mạc. Ảnh: Tuyết Mai - TTXVN

Ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam đánh giá, triển lãm mang giá trị đặc biệt khi đưa người xem trở lại với không khí của kỳ thi Hương cuối cùng diễn ra năm 1897 tại Nam Định. Những hình ảnh do Firmin-André Salles ghi lại một thế giới vừa nghiêm cẩn vừa sôi động với hàng hàng, lớp lớp sĩ tử bên mực, bút dưới mái tranh, một xã hội đang trên ngưỡng chuyển đổi. Điều này nhắc nhở về vai trò sâu sắc của giáo dục và tri thức trong việc hình thành bản sắc Việt. Việc tổ chức triển lãm tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, nơi từng là trung tâm học vấn của đất nước có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Không gian này hôm nay tiếp tục giữ vai trò kết nối giữa di sản, nghệ thuật và sáng tạo. Ông nhấn mạnh, sáng tạo là con đường mạnh mẽ để kết nối di sản với tương lai. Triển lãm là minh chứng cho cách lịch sử được kể lại bằng nhiếp ảnh - không chỉ qua những hình ảnh quá khứ mà qua cách con người từng nghĩ, từng mơ và từng chuyển mình.

Triển lãm giới thiệu hình ảnh khoa cử Việt Nam cuối thế kỷ XIX - Ảnh 6.

Khách tham quan các tác phẩm tại triển lãm. Ảnh: Tuyết Mai - TTXVN

Triển lãm không chỉ giúp công chúng hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử đặc biệt mà còn khơi gợi suy ngẫm về giá trị của sự học trong đời sống hôm nay. Thông qua ngôn ngữ nhiếp ảnh, quá khứ được tái hiện bằng cảm xúc đương đại, giúp di sản trở nên gần gũi, sống động và tiếp tục lan tỏa trong xã hội hiện đại.

Là hoạt động nổi bật trong khuôn khổ Photo Hanoi' 25, triển lãm "Khoa thi Hương cuối thế kỷ XIX" góp phần tôn vinh nhiếp ảnh như một phương tiện sáng tạo, bảo tồn ký ức và kết nối văn hóa. Với sự hòa quyện giữa giá trị lịch sử, nghệ thuật, giáo dục, triển lãm mang đến cho người xem hành trình ngược dòng thời gian, từ trường thi xưa đến không gian đương đại của Văn Miếu - Quốc Tử Giám hôm nay để cảm nhận sức sống bền bỉ của tri thức và đạo học Việt Nam.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...