Chuyển đến nội dung chính

Từ di sản UNESCO tới nuôi dưỡng tình yêu văn hóa dân tộc

 Các nghệ nhân xoan trình diễn tại đình Thét, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Các nghệ nhân xoan trình diễn tại đình Thét, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Việc UNESCO công nhận không chỉ khẳng định giá trị nghệ thuật độc đáo của di sản mà còn tạo động lực để cộng đồng duy trì kỹ năng, bí quyết nghề, đồng thời mở ra cơ hội quảng bá văn hóa Việt Nam. Từ các di sản được UNESCO ghi danh đến hệ thống di sản trong nước, yêu cầu xây dựng chương trình giáo dục hiện đại gắn kết tri thức bản địa phù hợp từng vùng văn hóa trở nên cấp thiết.

Thực tế tại nhiều địa phương có di sản cho thấy, bên cạnh phát huy giá trị phục vụ du lịch, hoạt động truyền dạy văn hóa dân tộc là giải pháp hiệu quả trong gìn giữ bản sắc đặc trưng.

Từng nằm trong danh sách di sản cần bảo vệ khẩn cấp của UNESCO, hát xoan được truyền dạy rộng rãi trong trường học và cộng đồng. Học sinh tiếp cận các làn điệu cổ, tìm hiểu phong tục và nghi lễ gắn với xoan dưới sự hướng dẫn của nghệ nhân. Sự tham gia tích cực của thế hệ trẻ đã góp phần đưa hát xoan ra khỏi danh sách cần bảo vệ khẩn cấp và trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tại Bắc Ninh, dạy quan họ trong trường học hình thành lớp “liền anh”, “liền chị” trẻ. Ở Thanh Hóa và Nghệ An, các câu lạc bộ dân ca ví dặm giúp học sinh đến gần hơn với lời ca và phong tục của từng vùng.

Tại Đắk Lắk, ngành giáo dục phối hợp ngành văn hóa triển khai chương trình “Đưa di sản vào trường học” trong hệ thống trường dân tộc nội trú, tạo điều kiện để học sinh tiếp cận cồng chiêng, tìm hiểu âm nhạc và luật tục của cộng đồng bản địa. Một số trường còn đưa ngôn ngữ, chữ viết, âm nhạc và nghề thủ công vào giảng dạy, tạo sức sống mới cho di sản. Những mô hình này khẳng định vai trò then chốt của giáo dục trong bảo tồn văn hóa. Khi được tổ chức phù hợp đặc trưng vùng miền và lứa tuổi học sinh, thế hệ trẻ sẽ hình thành thái độ trân trọng và ý thức trách nhiệm với di sản, góp phần bảo đảm sự tiếp nối và lan tỏa các giá trị truyền thống trong đời sống đương đại.

Trong bối cảnh giá trị truyền thống chịu nhiều tác động, từ cơ sở đến các cơ quan quản lý đều thống nhất quan điểm, giáo dục địa phương giữ vai trò quan trọng. Nhiều tỉnh, thành phố đã mở lớp dạy nghề truyền thống, đưa nội dung di sản vào chương trình phổ thông, tổ chức hoạt động ngoại khóa gắn với không gian văn hóa bản địa.

Tuy nhiên, chương trình giáo dục địa phương hiện mới dừng ở bộ khung chung, thiếu hướng dẫn cụ thể về nội dung, thời lượng và phương pháp giảng dạy gắn với đặc trưng từng vùng. Ở nhiều trường, giáo dục di sản chủ yếu lồng ghép hoặc triển khai dưới hình thức ngoại khóa; cơ sở giáo dục vùng dân tộc thiểu số vẫn thiếu giáo trình và tài liệu dành riêng cho truyền dạy di sản.

Từ những hạn chế này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần phối hợp Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng khung chương trình cho giáo dục địa phương, xác định rõ tỷ lệ nội dung liên quan di sản và văn hóa truyền thống ở từng khu vực nhất là nơi có nhiều loại hình di sản hoặc đông đồng bào dân tộc thiểu số. Việc tích hợp di sản vào giáo dục cần được thiết kế theo đặc trưng văn hóa vùng miền, phù hợp hệ giá trị, phong tục và tín ngưỡng của mỗi cộng đồng. Giáo dục di sản phải được triển khai thường xuyên, có hệ thống và hướng tới hình thành mạng lưới trường học gắn kết với di sản. Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh quá trình số hóa di sản văn hóa phi vật thể tích hợp nguồn tư liệu chuẩn vào chương trình giáo dục mới.

Trước những khuyến nghị của UNESCO, giáo dục cần phát huy vai trò chủ động trong gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống. Hoàn thiện chương trình giáo dục địa phương phải trở thành nhiệm vụ lâu dài, tạo nền tảng nuôi dưỡng tình yêu văn hóa dân tộc và ý thức bảo vệ di sản cho thế hệ trẻ

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ năm 2000

Việt Nam được Ủy ban Sinh quyển và Con người thuộc UNESCO công nhận 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới gồm: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, 2000. Ranh giới thuộc Cần Giờ, (Tp HCM). Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ. UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 21/1/2000 với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn. Nơi đây được công nhận là một khu du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam. Hình thành Trước chiến tranh, Cần Giờ là khu rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú nhưng bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh. Năm 1978, Cần Giờ được sáp nhập về Thành phố Hồ Chí Minh, và năm 1979 UBND thành phố Hồ Chí Minh phát động chiến dịch trồng lại rừng Cần Giờ, thành lập Lâm trường Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ, thuộc Ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi...