Chuyển đến nội dung chính

UNESCO ghi nhận Việt Nam là điểm sáng của khu vực trong phát triển trí tuệ nhân tạo

 Ngày 27/10, trong khuôn khổ Tuần lễ Số Quốc tế Việt Nam 2025 do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức tại tỉnh Ninh Bình, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) chính thức công bố Báo cáo Đánh giá mức độ sẵn sàng của Việt Nam trong việc thực hiện các khuyến nghị về Đạo đức Trí tuệ Nhân tạo (RAM).

Báo cáo đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia năng động và quyết đoán nhất khu vực Đông Nam Á trong phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), hướng tới một hệ sinh thái công nghệ đổi mới, bền vững và có trách nhiệm.

Báo cáo RAM của UNESCO được xây dựng dựa trên Khuyến nghị toàn cầu năm 2021 về Đạo đức Trí tuệ Nhân tạo, đánh giá toàn diện hệ sinh thái AI của Việt Nam trên 5 khía cạnh: khung pháp lý, hòa nhập xã hội - văn hóa, khoa học - giáo dục, kinh tế và nguồn nhân lực, cùng hạ tầng kỹ thuật - đổi mới sáng tạo.

Theo UNESCO, Việt Nam đã đạt được nhiều bước tiến quan trọng, thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược và sự quyết tâm của Chính phủ trong phát triển trí tuệ nhân tạo. Nhiều nghị quyết, chiến lược và đề án quốc gia về AI đã được ban hành, trong đó nhấn mạnh việc thúc đẩy chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ trong mọi lĩnh vực.

Báo cáo ghi nhận, chỉ trong hơn một thập kỷ, Việt Nam đã vươn từ vị trí 134 lên thứ 26 thế giới về công bố khoa học trong lĩnh vực AI - một bước tiến được UNESCO đánh giá là “ấn tượng và bền vững”.

Đồng thời, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đầu tiên trong khu vực đạt mức “Rất cao” trong Chỉ số Phát triển Chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc (năm 2024), nhờ hạ tầng viễn thông, Internet và di động phát triển mạnh mẽ, góp phần thu hẹp khoảng cách số giữa nông thôn và đô thị.

Việt Nam hiện có thế mạnh về năng lực Toán học và Khoa học trong khu vực, cùng mức độ tin tưởng cao của người dân đối với dữ liệu và công nghệ do Nhà nước quản lý, đây được xem là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển AI theo hướng nhân văn và có trách nhiệm.

Tuy nhiên, UNESCO cũng chỉ ra rằng liên thông dữ liệu giữa các ngành và cơ quan quản lý vẫn cần được đẩy mạnh hơn nữa, đồng thời khuyến nghị Việt Nam tích hợp các yếu tố văn hóa, môi trường và xã hội như quản lý năng lượng, rác thải điện tử và bảo tồn ngôn ngữ vào chiến lược AI trong tương lai, nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững và hài hòa giữa công nghệ và con người.

Báo cáo RAM khuyến nghị Việt Nam cần tích hợp sâu hơn các nguyên tắc đạo đức vào Chiến lược quốc gia về AI và khung pháp luật liên quan, đồng thời xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật - đạo đức phù hợp với thực tiễn quốc gia.

UNESCO cũng đề xuất thành lập Ủy ban Đạo đức AI Quốc gia nhằm điều phối chính sách, giám sát và thúc đẩy chia sẻ dữ liệu có trách nhiệm giữa khu vực công và tư. Ngoài ra, việc đầu tư phát triển các trung tâm dữ liệu quy mô lớn và trung tâm đổi mới sáng tạo AI được coi là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư công nghệ cao.

Trong lĩnh vực giáo dục, UNESCO nhấn mạnh cần đưa giáo dục đạo đức AI vào đào tạo cán bộ và chương trình học STEM, đồng thời phát triển nhân lực AI gắn với giá trị đạo đức, tính bao trùm và trách nhiệm xã hội. Tổ chức này cũng khuyến khích Việt Nam thúc đẩy các ứng dụng AI do cộng đồng dẫn dắt trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa, ngôn ngữ, và bảo vệ môi trường, qua đó khẳng định vai trò của AI như một công cụ phục vụ con người và sự phát triển bền vững.

c52af71df0c043ea90bd654cc37b8fd9.png
Ông Jonathan Wallace Baker - Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam, phát biểu tại Lễ công bố Báo cáo RAM

Phát biểu tại lễ công bố, ông Jonathan Wallace Baker - Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam đánh giá cao cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong phát triển trí tuệ nhân tạo lấy con người làm trung tâm. Ông nhận định, Việt Nam đã xác lập định hướng chính sách rõ ràng, thể hiện qua Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, coi AI và chuyển đổi số là động lực then chốt của tăng trưởng kinh tế.

Bên cạnh đó, Luật Công nghiệp Công nghệ số (2025) - lần đầu tiên có một chương riêng về Trí tuệ Nhân tạo cùng các văn bản pháp lý về an ninh mạng, dữ liệu mở, bảo vệ dữ liệu cá nhân và điện toán đám mây, đã tạo nên nền tảng pháp lý vững chắc cho phát triển AI tại Việt Nam.

UNESCO cũng ghi nhận Việt Nam đã tích cực đưa AI vào giáo dục và đào tạo nhân lực. Hiện nay, hơn 50 trường đại học trong nước đã mở ngành học hoặc chương trình liên quan đến AI, trong đó 18 trường đào tạo chuyên sâu về Trí tuệ nhân tạo và Khoa học dữ liệu.

Tuy nhiên, nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn còn hạn chế, khi cả nước mới có khoảng 7.000 chuyên gia AI, trong đó 300 tiến sĩ và sau tiến sĩ, 5.000 kỹ sư - thấp hơn nhiều so với nhu cầu thực tế của nền kinh tế số.

Theo UNESCO, Việt Nam cần xây dựng Chiến lược quốc gia toàn diện về phát triển nhân lực AI, chú trọng đào tạo lại (reskilling), nâng cao kỹ năng (upskilling) và hỗ trợ nghề nghiệp, giúp người lao động sẵn sàng thích ứng với thị trường lao động trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.

b6c31fac658643868437974e9c93c75b.png
UNESCO bàn giao Báo cáo RAM cho Việt Nam

Báo cáo RAM do nhóm chuyên gia liên ngành thực hiện từ tháng 8/2024 đến tháng 8/2025, dưới sự điều phối của Bộ Khoa học và Công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật của UNESCO và tài trợ của Liên minh châu Âu (EU). Quá trình nghiên cứu bao gồm khảo sát, phỏng vấn và tham vấn sâu với các cơ quan nhà nước, tổ chức tư nhân, chuyên gia độc lập và cộng đồng công nghệ.

Theo ông Jonathan Wallace Baker, việc công bố Báo cáo RAM không chỉ giúp Việt Nam có cơ sở dữ liệu khoa học cho hoạch định chính sách AI, mà còn khẳng định vai trò và uy tín quốc tế của Việt Nam trong việc xây dựng một hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo an toàn, nhân văn và bền vững.

UNESCO đánh giá, Việt Nam đang trở thành điểm sáng của khu vực Đông Nam Á trong phát triển trí tuệ nhân tạo - một quốc gia năng động, có tầm nhìn dài hạn và cam kết mạnh mẽ với các giá trị đạo đức toàn cầu, hướng đến mục tiêu phát triển công nghệ “lấy con người làm trung tâm”, vì một tương lai số bền vững, bao trùm và thịnh vượng.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

"Non nước Cao Bằng" vinh dự đoạt giải thưởng toàn cầu

  Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng vinh dự là 1 trong 5 CVĐC trên thế giới được Giải thưởng “Mô hình hoạt động hiệu quả của Mạng lưới CVĐC toàn cầu UNESCO”. Hội nghị quốc tế lần thứ 11 của Mạng lưới Công viên địa chất (CVĐCTC) toàn cầu UNESCO (GGN) diễn ra tại Cộng hòa Chi-lê từ ngày 05 – 15/9. Hội nghị GGN lần thứ 11 quy tụ khoảng 1.000 đại biểu, gồm đại diện các CVĐC toàn cầu UNESCO, các CVĐC tiềm năng, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, chính khách và nhà quản lý. Đây là diễn đàn để các CVĐC gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu những mô hình hiệu quả, giải pháp thiết thực trong xây dựng và phát triển danh hiệu CVĐC theo tiêu chí của UNESCO. Hội nghị cũng khẳng định vai trò gắn kết của GGN trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Rất đông đại biểu, du khách ấn tượng không gian văn hóa Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tại Hội nghị GGN lần thứ 11. Tham dự Hội nghị, CVĐC Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng t...