Chuyển đến nội dung chính

“Cú hích” nội luật hóa di sản và chiến lược phát triển bền vững dựa vào cộng đồng

 Việc Quốc hội thông qua Luật Di sản văn hóa năm 2024 không chỉ là một bước tiến về kỹ thuật lập pháp, mà còn là sự khẳng định mạnh mẽ cam kết của Việt Nam trong việc thực hiện các Công ước UNESCO. Trọng tâm của luật mới hướng tới việc đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm, lấy sự bền vững làm thước đo cho mọi hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Từ cam kết quốc tế đến hành động quốc gia

Năm 1972, Công ước về Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới (Công ước 1972) ra đời, đánh dấu một bước ngoặt của nhân loại trong việc nhận diện các giá trị nổi bật toàn cầu. Việt Nam chính thức phê chuẩn Công ước vào năm 1987 và đến nay đã có 9 di sản thế giới được UNESCO vinh danh (gần nhất là Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc, năm 2025).

“Cú hích” nội luật hóa di sản và chiến lược phát triển bền vững dựa vào cộng đồng
 
“Cú hích” nội luật hóa di sản và chiến lược phát triển bền vững dựa vào cộng đồng
Tràng An (Ninh Bình) trở thành hình mẫu trong sự bảo tồn và phát huy giá trị di sản bền vững. 

Hơn 50 năm qua, tư duy của UNESCO đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ: Từ nguyên tắc bảo tồn vật thể thuần túy sang cách tiếp cận đặt con người làm trọng tâm. Điều 5 của Công ước 1972 nhấn mạnh việc "trao cho di sản một chức năng trong đời sống cộng đồng". Tiếp nối tinh thần đó, Tuyên bố Nara (1994) và Chính sách phát triển bền vững (2015) của UNESCO đã khẳng định: Di sản không thể tách rời khỏi sinh kế và bản sắc của cộng đồng địa phương.

Tại Việt Nam, quá trình nội luật hóa các quan điểm này đã được thực hiện nhất quán. Từ Luật Di sản văn hóa 2001 (lần đầu quy định về di sản phi vật thể) đến Nghị định số 109/2017/NĐ-CP, Việt Nam luôn nỗ lực tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, phải đến Luật Di sản văn hóa năm 2024 (có hiệu lực từ 1-7-2025), sự gắn kết giữa bảo tồn và phát triển bền vững mới thực sự được định hình rõ nét thông qua những quy định mang tính đột phá.

Những bước tiến mang tính thời đại

Theo PGS, TS Lê Thị Thu Hiền, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL), bước tiến quan trọng nhất của Luật Di sản văn hóa 2024 chính là việc xác định rõ chủ thể văn hóa. Điều 5 của Luật đã phân định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cộng đồng, cá nhân và nhóm cá nhân. Đây không chỉ là sự thay đổi về câu chữ, mà là sự công nhận vị thế của người dân - những “người gác đền” thực thụ của di sản.

Luật mới cũng thiết lập các cơ chế bảo vệ nghiêm ngặt nhưng linh hoạt: Đánh giá tác động di sản (HIA), mọi dự án đầu tư trong và ngoài vùng đệm di sản thế giới đều phải xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền và đề xuất giải pháp hạn chế rủi ro trước khi thực hiện.

Giải quyết bài toán quản lý đối với các di sản trải dài trên nhiều địa bàn, đảm bảo tính thống nhất trong bảo tồn; Quy định rõ về quy chế bảo vệ và kế hoạch quản lý di sản thế giới, đưa các cam kết với UNESCO trở thành nghĩa vụ pháp lý bắt buộc.

Bên cạnh những phân tích từ cơ quan quản lý nhà nước, các chuyên gia di sản cũng bày tỏ sự đồng thuận cao với những điểm mới trong Luật Di sản văn hóa 2024.

“Cú hích” nội luật hóa di sản và chiến lược phát triển bền vững dựa vào cộng đồng
Côn Sơn – Kiếp Bạc thuộc quần thể di tích lịch sử, văn hóa và tâm linh nổi tiếng, vừa được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. 

PGS, TS Đặng Văn Bài, Phó chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia đánh giá: “Điểm sáng lớn nhất của Luật lần này là tư duy quản lý đã chuyển từ “đóng khung, cấm đoán” sang “bảo tồn để phát triển”. Việc luật hóa khái niệm “cộng đồng” không chỉ là sự ghi nhận trên văn bản, mà là trao cho người dân quyền được tham gia vào nền kinh tế di sản. Khi người dân thấy di sản đem lại cơm ăn áo mặc, họ sẽ tự nguyện trở thành những người bảo vệ di sản tích cực nhất. Đây chính là chìa khóa của sự bền vững”.

Ông Michael Croft, nguyên Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam (người đã có nhiều năm gắn bó với các dự án di sản Việt Nam) nhận định: “Việt Nam đã cho thấy sự trưởng thành vượt bậc trong việc nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế. Luật Di sản văn hóa 2024 không chỉ giải quyết các vấn đề nội tại mà còn chứng minh trách nhiệm của một quốc gia thành viên Ủy ban Di sản thế giới. Cách tiếp cận dựa trên quyền văn hóa của người dân địa phương tại các di sản như Hội An, Tràng An mà Việt Nam đang luật hóa chính là hình mẫu để nhiều quốc gia khác tham khảo”.

Di sản trong “hệ sinh thái” 4 trụ cột phát triển bền vững

PGS, TS Lê Thị Thu Hiền nhấn mạnh, việc thực thi Luật Di sản văn hóa và các Công ước quốc tế đã mang lại những quả ngọt thực chất, đóng góp trực tiếp vào 4 nhóm yếu tố cơ bản của sự bền vững:

Trụ cột 1: Bảo vệ môi trường bền vững. Di sản thế giới thường là những khu vực có hệ sinh thái đa dạng nhất. Tại Việt Nam, các khu vực như Vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng hay Quần thể danh thắng Tràng An đã trở thành hình mẫu về bảo vệ môi trường.

Điển hình tại Tràng An (Ninh Bình), thông qua các cuộc đàm phán và quy định pháp lý, các khu vực khai thác đá vôi phục vụ công nghiệp xi măng đã được loại bỏ khỏi vùng đệm. Việc mở rộng ranh giới bảo vệ không chỉ giúp giữ gìn khối núi đá vôi nguyên vẹn mà còn đảm bảo môi trường sống trong sạch cho cộng đồng cư dân, tạo tiền đề cho du lịch sinh thái bền vững.

Trụ cột 2: Phát triển xã hội cho mọi người. Luật Di sản văn hóa 2024 hướng tới sự công bằng trong hưởng thụ và trách nhiệm bảo tồn.

Tại Hội An, chính quyền đã ban hành quy chế hỗ trợ tu bổ di tích cho người dân với tỷ lệ lên đến 60-75%. Đây là cách Nhà nước chia sẻ gánh nặng với cộng đồng, giúp người dân vừa giữ được nhà cổ, vừa đảm bảo cuộc sống hiện đại.

Tại Phong Nha - Kẻ Bàng, các chính sách mới cho phép cộng đồng dân tộc thiểu số trong vùng lõi được trả công bảo vệ rừng và tiếp cận khai thác lâm sản ngoài gỗ bền vững. Di sản lúc này trở thành sợi dây gắn kết xã hội, đảm bảo quyền văn hóa của các nhóm yếu thế.

Trụ cột 3: Tăng trưởng kinh tế bền vững. Thống kê cho thấy, các địa phương sở hữu di sản thế giới đều có sự tăng trưởng vượt bậc về GDP nhờ du lịch và dịch vụ. Điển hình tại Hội An, từ khi trở thành di sản thế giới, du lịch - dịch vụ đã tăng trưởng mạnh mẽ, hiện chiếm hơn 70% GDP toàn thành phố.

Đặc biệt, việc UNESCO chọn Tràng An (Ninh Bình) thí điểm dự án du lịch bền vững nhằm tăng cường lợi ích cho phụ nữ chèo đò là minh chứng rõ nhất cho việc di sản tạo ra sinh kế bền vững, giúp xóa đói giảm nghèo một cách nhân văn.

Trụ cột 4: Thúc đẩy hòa bình và an ninh. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Việc tôn vinh di sản của đồng bào dân tộc thiểu số như người Chăm (Mỹ Sơn) hay người Bru - Vân Kiều (Phong Nha - Kẻ Bàng) đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trên bình diện quốc tế, các hội thảo khoa học và hoạt động hợp tác với UNESCO giúp Việt Nam tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, xây dựng hình ảnh một đất nước yêu chuộng hòa bình, tôn trọng giá trị nhân loại. Môi trường di sản an toàn, trật tự cũng chính là nền tảng để thu hút khách du lịch và đầu tư quốc tế.

Theo các chuyên gia, Nghị định số 308/2025/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28-11-2025 và chính thức có hiệu lực vào ngày 15-1-2026, quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Di sản văn hóa cho thấy một tầm nhìn chiến lược: Bảo tồn không phải là rào cản của phát triển, mà chính là nền tảng của phát triển bền vững.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

"Non nước Cao Bằng" vinh dự đoạt giải thưởng toàn cầu

  Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng vinh dự là 1 trong 5 CVĐC trên thế giới được Giải thưởng “Mô hình hoạt động hiệu quả của Mạng lưới CVĐC toàn cầu UNESCO”. Hội nghị quốc tế lần thứ 11 của Mạng lưới Công viên địa chất (CVĐCTC) toàn cầu UNESCO (GGN) diễn ra tại Cộng hòa Chi-lê từ ngày 05 – 15/9. Hội nghị GGN lần thứ 11 quy tụ khoảng 1.000 đại biểu, gồm đại diện các CVĐC toàn cầu UNESCO, các CVĐC tiềm năng, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, chính khách và nhà quản lý. Đây là diễn đàn để các CVĐC gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu những mô hình hiệu quả, giải pháp thiết thực trong xây dựng và phát triển danh hiệu CVĐC theo tiêu chí của UNESCO. Hội nghị cũng khẳng định vai trò gắn kết của GGN trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Rất đông đại biểu, du khách ấn tượng không gian văn hóa Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tại Hội nghị GGN lần thứ 11. Tham dự Hội nghị, CVĐC Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng t...