Chuyển đến nội dung chính

Khi văn hóa trở thành ngôn ngữ đối ngoại của Việt Nam

 Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, ngoại giao văn hóa đã đi một chặng đường dài: từ vai trò minh họa sang vị thế của một trụ cột thực chất trong nền ngoại giao toàn diện Việt Nam.

 

Từ các diễn đàn UNESCO đến những lễ hội văn hóa quốc tế, từ cộng đồng kiều bào đến không gian số toàn cầu, văn hóa đang giúp Việt Nam nói với thế giới bằng một ngôn ngữ đặc biệt - ngôn ngữ của bản sắc, niềm tin và những giá trị bền vững.

Trong chương trình thăm cấp Nhà nước tới Cộng hòa Azerbaijan, sáng 8/5/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm và Phu nhân dự Lễ khánh thành Phòng lưu niệm “Chủ tịch Hồ Chí Minh với ngành dầu khí Việt Nam – Azerbaijan” tại Trường Đại học Dầu mỏ và Công nghệ quốc gia Azerbaijan ở thủ đô Baku

Nếu ngoại giao chính trị mở ra không gian chiến lược, ngoại giao kinh tế tạo dựng nguồn lực vật chất, thì ngoại giao văn hóa chính là phần hồn của sức mạnh quốc gia. Chính phần hồn ấy khiến hình ảnh Việt Nam không chỉ được biết đến, mà còn được thấu hiểu, tôn trọng và cảm mến.

Tổng Bí thư Tô Lâm và Phu nhân cùng các đại biểu cắt băng khánh thành Phòng lưu niệm "Chủ tịch Hồ Chí Minh với ngành dầu khí Việt Nam - Azerbaijan"

Khi văn hóa trở thành ngôn ngữ đối ngoại của Việt Nam - Ảnh 3.

Điểm mới mẻ và sâu sắc nhất trong nhiệm kỳ Đại hội XIII không chỉ là việc văn hóa được đưa vào đối ngoại, mà là việc văn hóa được đặt vào trung tâm của tư duy đối ngoại. Việt Nam không còn chỉ kể câu chuyện của mình bằng lịch sử hay di sản, mà bằng những giá trị đương đại: khát vọng phát triển bền vững, tinh thần hòa hiếu, sáng tạo và trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.

Tổng Bí thư Tô Lâm và Phu nhân dự Lễ khánh thành và tham quan Phòng lưu niệm "Chủ tịch Hồ Chí Minh với ngành dầu khí Việt Nam - Azerbaijan"

Những con số biết nói - 77 danh hiệu UNESCO, việc đảm nhiệm vai trò tại 6 cơ chế điều hành then chốt của UNESCO, hay sáng kiến "Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững" do Việt Nam đề xuất và được Đại hội đồng UNESCO thông qua – không đơn thuần là thành tích ngoại giao. Đó là sự ghi nhận về vị thế trí tuệ, uy tín văn hóa và năng lực đóng góp của một quốc gia đang bước ra thế giới bằng chính bản sắc của mình.

Phu nhân Ngô Phương Ly đã đến tham quan triển lãm tại trường Đại học Mỹ thuật Moskva mang tên V.I.Surikov và thăm trường Đại học Điện ảnh quốc gia Nga S.A. Gerasimov (VGIK) trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Liên bang Nga ngày 12/5/2025

Việc Việt Nam đăng cai Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội năm 2025 hay Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc không chỉ là những sự kiện. Đó là cách Việt Nam gửi đi một thông điệp rõ ràng: chúng ta không đứng ngoài dòng chảy văn minh nhân loại, mà chủ động góp tiếng nói cho hòa bình, đối thoại và phát triển bền vững.

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Belarus (ngày 14/05/2025) cùng Tổng Bí thư Tô Lâm, Phu nhân Ngô Phương Ly đã đến thăm lớp học tiếng Việt tại Đại sứ quán Việt Nam (Belarus), tặng 124 đầu sách cho tủ sách tiếng Việt. Phu nhân cũng đã đến tham quan Bảo tàng quốc gia Belarus được xây dựng vào năm 1939, hiện lưu giữ hơn 37.000 hiện vật

Khi văn hóa trở thành ngôn ngữ đối ngoại của Việt Nam - Ảnh 7.

Trong một thế giới ngày càng phân mảnh bởi xung đột, cạnh tranh và bất ổn, những giá trị văn hóa bền vững bỗng trở thành tài sản chiến lược. Chính ở điểm này, Việt Nam tìm thấy lợi thế riêng của mình.

Triển lãm "Vẻ đẹp sau ánh hào quang. Tranh sơn mài Việt Nam” tại Bảo tàng quốc gia Phương Đông ở thủ đô Moskva (Liên bang Nga) ngày 30/7/2025. Đây là triển lãm sơn mài lớn nhất từ trước đến nay của các hoạ sĩ tên tuổi nhất Việt Nam do Bộ Văn hoá Nga thực hiện với sự hỗ trợ của Quỹ "Lịch sử Tổ quốc" của Nga và Quỹ Thúc đẩy hợp tác Nga-Việt "Truyền thống và Hữu nghị". Phu nhân Tổng Bí thư Tô Lâm, bà Ngô Phương Ly, đã đến dự và phát biểu tại sự kiện

Tinh thần hòa hiếu, sự bao dung, chiều sâu lịch sử và sức sống của một nền văn hóa đã đi qua nhiều thử thách giúp Việt Nam hình thành một hình ảnh khác biệt: một quốc gia không tìm kiếm đối đầu, không áp đặt giá trị, mà sẵn sàng làm bạn, làm đối tác tin cậy với tất cả.

Ngày 29/7/2025, trước sự chứng kiến của Phu nhân Tổng Bí thư Ngô Phương Ly cùng đoàn đại biểu Việt Nam, Quảng trường Hồ Chí Minh đã chính thức được khánh thành tại quận Vyborg, thành phố St. Petersburg, Liên bang Nga

Những "Không gian Hồ Chí Minh" ở nước ngoài, các công trình tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, hay những tuần lễ văn hóa Việt Nam tại Mỹ, Nhật Bản, châu Âu, Đông Nam Á… không chỉ mang ý nghĩa kỷ niệm. Đó là cách Việt Nam kể câu chuyện về mình với thế giới – câu chuyện của một dân tộc kiên cường, nhân văn và luôn hướng về tương lai.

Khi văn hóa trở thành ngôn ngữ đối ngoại của Việt Nam - Ảnh 10.

Một chuyển biến rất đáng chú ý trong nhiệm kỳ này là cách nhìn về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Họ không chỉ được xem là đối tượng vận động, mà là những chủ thể văn hóa, những "đại sứ mềm" của đất nước.

“Saigon Lotus: Ngôi nhà văn hóa Việt – Anh”, chính thức ra đời vào tháng 10/2024, đã trở thành nơi kết nối cộng đồng kiều bào với cội nguồn dân tộc, đồng thời quảng bá văn hoá Việt Nam đến bạn bè quốc tế

Hơn 16 tỷ USD kiều hối năm 2025 là con số của kinh tế. Nhưng dòng chảy quan trọng hơn là dòng chảy tinh thần: tiếng Việt được gìn giữ, ký ức văn hóa được truyền lại cho thế hệ sau, và hình ảnh Việt Nam được lan tỏa từ chính những người Việt đang sống, học tập và làm việc giữa lòng thế giới.

Phu nhân Ngô Phương Ly, tham dự Chương trình ngoại giao văn hóa "Bản hòa ca Tết Việt" ngày 16/1/2025 cùng với các nữ Đại sứ và phu nhân các Đại sứ, Trưởng cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

Ở đó, ngoại giao văn hóa không còn là công việc của riêng Nhà nước, mà trở thành một hành trình chung của cộng đồng toàn cầu mang tên Việt Nam.

Khi văn hóa trở thành ngôn ngữ đối ngoại của Việt Nam - Ảnh 13.

Điều sâu xa nhất mà ngoại giao văn hóa mang lại không phải là sự ngưỡng mộ nhất thời, mà là niềm tin: tin Việt Nam là một đối tác ổn định; tin Việt Nam là một nền văn hóa có chiều sâu; tin rằng hợp tác với Việt Nam không chỉ vì lợi ích, mà còn vì sự đồng điệu về giá trị.

Trong một thế giới nhiều biến động, niềm tin ấy có giá trị không kém bất kỳ nguồn lực kinh tế nào.

Du khách nước ngoài thích thú lưu lại những khoảnh khắc cùng lá cờ Việt Nam trong ngày Quốc khánh 2/9/2025

Bởi vậy, khi nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XIII, có thể thấy rất rõ: văn hóa không chỉ làm đẹp hình ảnh Việt Nam, mà đang trở thành một trụ cột thực sự của sức mạnh quốc gia – thứ sức mạnh mềm bền bỉ, thấm sâu và ngày càng có trọng lượng trong quan hệ quốc tế.

Chương trình nghệ thuật với chủ đề “Vang mãi Bản hùng ca”, chào mừng Kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9

Trong một thế giới còn nhiều bất ổn và chia rẽ, những giá trị văn hóa bền vững chính là điểm tựa để các quốc gia tìm thấy nhau. Việt Nam bước ra thế giới không chỉ bằng lợi ích hay vị thế, mà bằng câu chuyện về một dân tộc yêu hòa bình, giàu nhân ái và luôn hướng tới tương lai. Và chính từ những kết nối thầm lặng ấy, một Việt Nam tự tin, nhân văn và đáng tin cậy đang dần hiện lên trong bức tranh chung của thế giới hôm nay./.

  • Nội dung:  Báo Thể thao &Văn hóa

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

"Non nước Cao Bằng" vinh dự đoạt giải thưởng toàn cầu

  Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng vinh dự là 1 trong 5 CVĐC trên thế giới được Giải thưởng “Mô hình hoạt động hiệu quả của Mạng lưới CVĐC toàn cầu UNESCO”. Hội nghị quốc tế lần thứ 11 của Mạng lưới Công viên địa chất (CVĐCTC) toàn cầu UNESCO (GGN) diễn ra tại Cộng hòa Chi-lê từ ngày 05 – 15/9. Hội nghị GGN lần thứ 11 quy tụ khoảng 1.000 đại biểu, gồm đại diện các CVĐC toàn cầu UNESCO, các CVĐC tiềm năng, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, chính khách và nhà quản lý. Đây là diễn đàn để các CVĐC gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu những mô hình hiệu quả, giải pháp thiết thực trong xây dựng và phát triển danh hiệu CVĐC theo tiêu chí của UNESCO. Hội nghị cũng khẳng định vai trò gắn kết của GGN trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Rất đông đại biểu, du khách ấn tượng không gian văn hóa Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tại Hội nghị GGN lần thứ 11. Tham dự Hội nghị, CVĐC Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng t...