Chuyển đến nội dung chính

Óc Eo - Ba Thê trên chặng đường đến Di sản thế giới - Bài 2: Vì sao thế giới phải gọi tên Óc Eo - Ba Thê?

 

UNESCO chỉ ghi danh những nơi có 'Giá trị nổi bật toàn cầu'. Với Óc Eo - Ba Thê, giá trị ấy được chứng minh bằng dấu tích đô thị cổ, hệ thống kênh đào, mạng lưới giao thương và sự giao thoa văn hóa trong nhiều thế kỷ.

Trên một điểm cao ở núi Ba Thê nhìn xuống. Ảnh: VIỆT TIẾN

Tôi đứng trên một điểm cao ở núi Ba Thê và nhìn xuống cánh đồng Óc Eo vào một buổi sáng trời trong. Dưới tầm mắt tôi là một không gian rộng, phẳng, kéo dài theo hướng chân núi. Nếu chỉ nhìn bằng con mắt của hiện tại, nơi ấy là ruộng lúa, là đường làng, là những xóm nhỏ nép mình theo mùa vụ. Tuy nhiên, khi người xem đặt thêm vào đó lớp thông tin khảo cổ, cảnh quan bình dị ấy bỗng mang một hình dáng khác. Nó gợi ra hình dung về một đô thị cổ nằm giữa châu thổ, vận hành bằng đường nước, kết nối bằng kênh, rạch và phát triển nhờ thương mại.

Óc Eo - Ba Thê hiện nay không còn nguyên vẹn như một thành phố cổ lộ thiên. Phần lớn dấu tích nằm dưới đất, nằm trong các gò, nằm trong tầng văn hóa đã bị thời gian và canh tác phủ lên. Tuy nhiên, dấu vết vẫn còn đủ để tái hiện cấu trúc. Những nền kiến trúc, những đoạn kênh cổ, những mảnh vật liệu xây dựng, những nhóm di vật cho thấy hoạt động cư trú, tôn giáo và trao đổi hàng hóa. Chính vì vậy, câu chuyện quan trọng nhất của kỳ này là câu chuyện về “Giá trị nổi bật toàn cầu”, tức OUV mà hồ sơ đề cử đang theo đuổi.

Tiêu chí II: Giao thoa văn hóa xuyên lục địa

Trong hồ sơ đề cử, tiêu chí II được hiểu là khả năng thể hiện sự giao lưu và ảnh hưởng qua lại giữa các giá trị văn hóa trong một giai đoạn lịch sử. Theo Tiến sĩ Trương Đắc Chiến - cán bộ Bảo tàng Lịch sử quốc gia, đại diện nhóm chuyên gia thực hiện hồ sơ đề cử Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê, đối với Óc Eo - Ba Thê, giai đoạn ấy nằm trong khoảng thế kỷ I đến thế kỷ VII sau Công nguyên, khi mạng lưới hàng hải trên Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương phát triển mạnh. Các tuyến đường biển và đường sông đã tạo ra những “điểm hẹn” thương mại, nơi hàng hóa, kỹ thuật, nghệ thuật và tôn giáo gặp nhau, rồi lan tỏa.

Đoàn chuyên gia khảo sát thực địa tư vấn xây dựng hồ sơ Di sản thế giới cho Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê. Ảnh do Ban Quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo cung cấp.

Những dấu tích và di vật ở Óc Eo - Ba Thê cho thấy vùng đất này từng là một mắt xích quan trọng của mạng lưới ấy. Trong khảo cổ học, việc tìm thấy các hiện vật có nguồn gốc xa hoặc có phong cách chịu ảnh hưởng ngoại lai, thường phản ánh cường độ giao thương và mức độ tiếp biến văn hóa. Ở Óc Eo - Ba Thê, tư liệu hiện vật được nhắc tới gồm đồ trang sức, tượng thờ, minh văn, vật liệu kiến trúc, cùng nhiều loại di vật khác, cho thấy sự hiện diện của các luồng ảnh hưởng tôn giáo, nghệ thuật và kỹ thuật.

Điều đáng chú ý là hồ sơ không chỉ nhấn vào “chuyện có hiện vật” mà nhấn vào bối cảnh tạo ra sự giao thoa. Bối cảnh đó là một không gian định cư và thương mại được tổ chức bằng thủy hệ. Nếu cư dân xưa không có năng lực tổ chức xã hội và kỹ thuật phù hợp, sự giao thương khó có thể phát triển quy mô lớn ở một vùng châu thổ thường xuyên biến động. Trong cách lập luận của hồ sơ, hệ thống kênh đào và cấu trúc cư trú gắn với núi Ba Thê được xem là nền tảng vật chất để giải thích vì sao Óc Eo trở thành một trung tâm giao lưu, thay vì chỉ là một điểm cư trú rải rác. Khi đặt tiêu chí II vào ngôn ngữ đời thường, có thể hiểu rằng Óc Eo - Ba Thê là nơi “người xưa đã gặp gỡ nhau” thông qua thương mại và tôn giáo. Những dấu vết tiếp nhận rồi biến đổi theo bản địa là điều quan trọng, vì UNESCO tìm kiếm những nơi phản ánh sự trao đổi văn hóa một cách rõ ràng và có chứng cứ.

Tiêu chí III: Minh chứng độc đáo cho một nền văn minh đã biến mất

Nếu tiêu chí II nói về giao lưu, thì tiêu chí III thường đi vào chiều sâu của “ký ức văn minh”. Hồ sơ đề cử xem Óc Eo - Ba Thê là minh chứng nổi bật cho văn hóa Óc Eo gắn với vương quốc Phù Nam, một thực thể lịch sử từng tồn tại rồi biến mất. Khi một nền văn minh không còn, điều còn lại để người đời sau nhận diện chính là các dấu tích vật chất và cấu trúc không gian đã in dấu trong đất.

Đoàn chuyên gia khảo sát thực địa tư vấn xây dựng hồ sơ Di sản thế giới cho Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê. Ảnh do Ban Quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo cung cấp.

Tiến sĩ Trương Đắc Chiến cho biết, ở Óc Eo - Ba Thê, dấu tích không nằm đơn lẻ. Hồ sơ nhấn tới một hệ thống gồm thành lũy, kênh đào, khu cư trú, đền tháp và tiền cảng. Hệ thống ấy cho phép tái dựng chân dung của một trung tâm đô thị và thương mại trong bối cảnh châu thổ. Sự hiện diện của các kiến trúc tôn giáo phản ánh đời sống tinh thần, trong đó có cả Hindu giáo và Phật giáo. Sự hiện diện của cư trú và thủ công phản ánh đời sống sản xuất và trao đổi. Sự hiện diện của kênh đào và các dấu vết liên quan giao thông đường nước phản ánh cách tổ chức không gian và nguồn lực.

Hồ sơ gọi mạch lập luận này là “nền văn minh cảng thị biển sớm”, bởi trung tâm ấy không chỉ hướng nội theo đồng ruộng mà còn hướng ngoại theo đường nước và biển. Cách gọi này phù hợp với điều mà UNESCO yêu cầu, vì UNESCO quan tâm đến câu chuyện “một nền văn minh đã vận hành ra sao” và “những thuộc tính nào hiện còn đủ để chứng minh”.

Khi đứng giữa cánh đồng, người ta dễ có cảm giác rằng di sản đang “ẩn mình”. Tuy nhiên, chính đặc điểm “ẩn trong đất” lại khiến việc chứng minh quan trọng hơn. Vì vậy, lập luận theo tiêu chí III phải dựa vào khảo cổ, dựa vào cấu trúc, dựa vào hệ thống di vật và dựa vào tính liên kết giữa các thành phần trong quần thể.

So sánh với các di sản trong khu vực

Cũng theo Tiến sĩ Trương Đắc Chiến, một hồ sơ UNESCO thường cần so sánh, vì UNESCO phải cân nhắc tính độc đáo và tầm vóc của di sản trong bối cảnh khu vực và thế giới. Trong dự thảo, Óc Eo - Ba Thê được đặt cạnh một số di sản và địa điểm đã được biết đến ở khu vực, như Pyu, Si Thep và Sambor Prei Kuk. Việc đặt cạnh không nhằm tạo cuộc đua danh hiệu mà nhằm làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt về loại hình, niên đại, tính chất đô thị, tính chất tôn giáo và cấu trúc không gian.

Trong so sánh ấy, hồ sơ nhấn mạnh rằng điểm nổi lên của Óc Eo - Ba Thê nằm ở tính “cảng thị biển” và hệ thống kênh đào quy mô, gắn với điều kiện châu thổ. Nói cách khác, nếu nhiều trung tâm cổ trong khu vực nổi bật ở kiến trúc tôn giáo hoặc đô thị nội địa, thì Óc Eo - Ba Thê được nhấn mạnh ở mô hình đô thị vận hành bằng đường nước, kết nối thương mại và phản ánh sự tương tác giữa cư dân bản địa với mạng lưới giao thương rộng. Điểm “có kiểm soát” trong so sánh là ở chỗ hồ sơ không phóng đại mà tập trung vào các thuộc tính có thể chứng minh bằng dấu tích và di vật. UNESCO luôn cảnh giác với những lời khẳng định lớn nhưng thiếu chứng cứ. Vì vậy, việc so sánh phải thận trọng, có nguồn, có lập luận và có giới hạn rõ ràng.

Khi tôi nhìn xuống cánh đồng từ núi Ba Thê, tôi hiểu vì sao người làm hồ sơ phải tận dụng ngôn ngữ của bản đồ, của cấu trúc, của thủy hệ. Những thứ ấy giúp biến một không gian “đời thường” thành một câu chuyện “toàn cầu” mà thế giới có thể hiểu và có thể kiểm chứng. Tôi rút ra một điều: OUV không phải là mỹ từ để làm đẹp hồ sơ, OUV là một hệ thống bằng chứng. Khi bằng chứng đủ mạnh, thế giới sẽ gọi tên Óc Eo - Ba Thê bằng sự tôn trọng.

OUV là gì?

OUV là viết tắt của “Giá trị nổi bật toàn cầu”. Đây là giá trị làm cho một di sản có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi địa phương và quốc gia. UNESCO xem xét OUV dựa trên các tiêu chí cụ thể, cùng với tính toàn vẹn, tính xác thực và cơ chế bảo vệ, quản lý. Nói ngắn gọn, OUV là câu trả lời cho câu hỏi: Vì sao di sản này quan trọng đối với nhân loại.

(Còn tiếp)

VIỆT TIẾN

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

"Non nước Cao Bằng" vinh dự đoạt giải thưởng toàn cầu

  Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng vinh dự là 1 trong 5 CVĐC trên thế giới được Giải thưởng “Mô hình hoạt động hiệu quả của Mạng lưới CVĐC toàn cầu UNESCO”. Hội nghị quốc tế lần thứ 11 của Mạng lưới Công viên địa chất (CVĐCTC) toàn cầu UNESCO (GGN) diễn ra tại Cộng hòa Chi-lê từ ngày 05 – 15/9. Hội nghị GGN lần thứ 11 quy tụ khoảng 1.000 đại biểu, gồm đại diện các CVĐC toàn cầu UNESCO, các CVĐC tiềm năng, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, chính khách và nhà quản lý. Đây là diễn đàn để các CVĐC gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu những mô hình hiệu quả, giải pháp thiết thực trong xây dựng và phát triển danh hiệu CVĐC theo tiêu chí của UNESCO. Hội nghị cũng khẳng định vai trò gắn kết của GGN trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Rất đông đại biểu, du khách ấn tượng không gian văn hóa Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tại Hội nghị GGN lần thứ 11. Tham dự Hội nghị, CVĐC Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng t...