Chuyển đến nội dung chính

Óc Eo - Ba Thê trên chặng đường đến di sản thế giới: Bài 3: Giữ gìn di tích bền vững với thời gian

 UNESCO xem toàn vẹn và xác thực là 2 thước đo quan trọng để đánh giá một di sản. Ở Khu di tích quốc gia đặc biệt Óc Eo - Ba Thê, việc giữ gìn 2 thước đo ấy diễn ra mỗi ngày, giữa mưa nắng vùng châu thổ và những nhu cầu rất thật của đời sống.

Đoàn chuyên gia trong nước và quốc tế trong chuyến khảo sát thực địa tư vấn xây dựng Hồ sơ di sản thế giới cho Óc Eo - Ba Thê. Ảnh: Ban Quản lý Di tích văn hóa Óc Eo cung cấp

Sau một trận mưa lớn, vùng chân núi Ba Thê, xã Óc Eo nước còn đọng thành vệt dài trên lối đi. Cỏ mọc nhanh, phủ rìa những nền gạch và các gò đất thấp. Mái che được dựng lên để bảo vệ dấu tích, nhưng gió vẫn lùa qua. Điều này nói lên rằng, bảo tồn di tích ở đồng bằng phải đối diện liên tục với thời tiết, mặt nước, sự bào mòn của đất và nhịp canh tác quanh năm. Khi hồ sơ Óc Eo - Ba Thê đi vào tiến trình của UNESCO, các khái niệm toàn vẹn và xác thực trở thành yêu cầu bắt buộc, nó hiện ra dưới những câu hỏi: Giữ cái gì? Giữ đến mức nào? Giữ bằng cách nào và ai giữ? Giữ trong điều kiện đời sống đang vận động ra sao?

Toàn vẹn và xác thực

Trong cách hiểu của UNESCO, toàn vẹn là mức độ đầy đủ của các yếu tố cấu thành giá trị nổi bật toàn cầu, cùng với sự nguyên vẹn của mối liên kết giữa các yếu tố đó. Đối với Óc Eo - Ba Thê, toàn vẹn không thể chỉ đo bằng việc còn lại bao nhiêu nền gạch hoặc bao nhiêu mảnh kiến trúc. Toàn vẹn của quần thể này nằm ở không gian tổng thể gồm: Núi Ba Thê, đồng bằng xung quanh và hệ thống dấu tích liên quan thành lũy, kênh đào, cư trú, tôn giáo, thủ công và giao thương.

Anh Phạm Văn Tùng - Phó trưởng Phòng Nghiệp vụ và Bảo tàng, Ban Quản lý Di tích văn hóa Óc Eo giải thích rằng, vùng lõi và vùng đệm trong hồ sơ là đường ranh bảo vệ các thuộc tính cốt lõi của di sản. Nếu chỉ giữ một vài điểm đẹp mắt rồi để phần còn lại bị xáo trộn, câu chuyện đô thị cổ sẽ đứt đoạn. Khi đó, Óc Eo - Ba Thê sẽ chỉ còn vài mảnh rời rạc, trong khi UNESCO cần một bức tranh đầy đủ về một trung tâm cư trú và giao thương gắn với văn hóa Óc Eo và bối cảnh Phù Nam. Theo anh Tùng, ở vùng châu thổ, hệ thống kênh, rạch và dấu tích kênh cổ là phần “xương sống” của không gian lịch sử. Kênh đào là công trình kỹ thuật, là đường vận chuyển, đường giao thương và đường kết nối cộng đồng. Nếu làm mất dấu vết của hệ thống ấy, việc chứng minh mô hình đô thị, cảng thị sẽ yếu đi. Vì vậy, bảo tồn toàn vẹn ở đây là bảo tồn cả không gian, chứ không phải bảo tồn một vài nền gạch.

Nếu tính toàn vẹn nói về mức độ đầy đủ của hệ thống, thì tính xác thực nói về độ tin cậy của những gì còn lại. UNESCO đòi hỏi di sản phải giữ được tính xác thực về vị trí, chất liệu, chức năng và bối cảnh. Nói cách dễ hiểu, di sản phải “thật” trong những thuộc tính cốt lõi và sự “thật” ấy phải được chứng minh bằng chứng cứ. Ở Óc Eo - Ba Thê, tính xác thực được thể hiện qua các dấu tích kiến trúc và sự phân bố không gian của các điểm di tích. Dấu tích nằm ở đâu, cấu trúc như thế nào, vật liệu gì, niên đại ra sao, mối liên hệ với hệ thống kênh đào như thế nào, tất cả đều là dữ liệu. Khi dữ liệu ấy được ghi nhận đúng, bảo vệ đúng và diễn giải đúng, tính xác thực sẽ được củng cố.

Tính xác thực còn được chứng minh bằng hệ thống hiện vật đã phát hiện. Hồ sơ đề cử nhấn mạnh tới các nhóm hiện vật tiêu biểu gồm: Minh văn, tượng thờ, tiền tệ, trang sức và những dấu vết hàng hóa có nguồn gốc từ giao thương. Những hiện vật này vừa phản ánh đời sống tôn giáo vừa phản ánh mạng lưới trao đổi hàng hóa, đồng thời góp phần giúp xác định niên đại và bối cảnh văn hóa. Với người phụ trách công tác truyền thông, báo chí, chúng tôi chú ý đến một chi tiết rất quan trọng trong câu chuyện xác thực. Khi một hiện vật bị tách khỏi nơi phát hiện hoặc khi bối cảnh địa tầng bị xáo trộn, giá trị thông tin sẽ giảm mạnh. Vì vậy, việc ngăn chặn đào bới trái phép và mua bán hiện vật có ý nghĩa lớn hơn người ta tưởng. Đó không chỉ là vấn đề an ninh văn hóa, đó còn là vấn đề khoa học và là vấn đề uy tín của hồ sơ.

Thách thức và giải pháp

Việc giữ toàn vẹn và xác thực ở Óc Eo - Ba Thê diễn ra trong điều kiện tự nhiên rất đặc thù. Mưa lớn có thể gây ngập cục bộ. Nắng dài ngày có thể làm đất nứt. Gió mạnh có thể ảnh hưởng mái che. Nước lên xuống theo mùa có thể tác động đến nền di tích và khu vực xung quanh. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, các dấu hiệu ngập, sạt lở, xói mòn dễ xảy ra và khó dự báo hơn. Bên cạnh tự nhiên là áp lực từ hoạt động canh tác và phát triển hạ tầng. Đồng bằng là nơi người dân sống bằng ruộng, rẫy. Đường đi, kênh, mương, máy móc nông nghiệp và nhu cầu cải tạo đất đều có thể chạm vào vùng di tích. Nếu việc quản lý ranh giới không rõ hoặc tuyên truyền không hiệu quả, nguy cơ xâm hại sẽ tăng.

Chúng tôi nghe người dân kể về những băn khoăn rất thật. Họ băn khoăn về đường đi nội đồng, về ranh đất, về việc canh tác có bị ảnh hưởng hay không và sinh kế được hỗ trợ ra sao khi khu vực bảo vệ được siết chặt hơn. Những băn khoăn ấy không phải là phản đối, đây là yêu cầu chính đáng của đời sống. Vì vậy, các cơ quan hữu quan và chính quyền cố gắng giải thích rõ ràng, tham vấn đầy đủ và có cơ chế phù hợp để không xảy ra xung đột, nhất là những thời điểm nhạy cảm. Điều đó chứng minh, câu chuyện giữ di sản là câu chuyện cân bằng giữa bảo tồn và sinh kế, giữa giá trị dài lâu và nhu cầu trước mắt, giữa chuẩn UNESCO và điều kiện của địa phương.

Theo ông Nguyễn Khắc Nguyên - Phó Giám đốc Ban Quản lý Di tích văn hóa Óc Eo, trong hồ sơ đề cử, kế hoạch quản lý được xem là trụ cột quan trọng để bảo vệ và phát huy giá trị di tích. Kế hoạch quản lý tổng hợp thường bao gồm các nhóm nhiệm vụ chính như: Bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục, truyền thông, phát huy giá trị gắn với sinh kế bền vững và cơ chế phối hợp giữa các lực lượng liên quan. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu của UNESCO, vì UNESCO luôn cần thấy một cam kết quản trị có hệ thống, có nguồn lực và có sự tham gia của cộng đồng.

Trong thực địa, một số việc được coi là cần triển khai rõ ràng và liên tục. Ban Quản lý Di tích văn hóa Óc Eo khẩn trương phối hợp với các ngành liên quan và chính quyền 2 xã có di tích nằm trên địa bàn cắm mốc ranh giới dễ nhận biết, vì mốc giới rõ ràng giúp giảm tranh chấp và giảm tác động vô ý. Công tác vệ sinh môi trường được tiến hành thường xuyên để giữ cảnh quan và tạo thiện cảm trong mắt khách tham quan, đồng thời tránh nguy cơ rác thải làm hư hại di tích. Công tác kiểm soát xâm hại gắn với tuyên truyền, giám sát cộng đồng được xử lý kịp thời. Công tác trưng bày và bảo quản hiện vật được nâng chất giúp người dân và du khách hiểu giá trị di sản, từ đó tăng sự tôn trọng và đồng thuận.

Ông Nguyễn Văn Nhiên - Giám đốc Ban Quản lý Di tích văn hóa Óc Eo cho biết, từ kinh nghiệm của những địa phương đi trước nên việc chuẩn bị cho việc thẩm định thực địa Óc Eo - Ba Thê của UNESCO đã được tính toán chu đáo như công tác tổ chức thuyết minh chuẩn, lập hệ thống biển chỉ dẫn rõ, xây dựng kịch bản đón tiếp khoa học. Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Ban Điều hành xây dựng hồ sơ đề cử Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê để có sự phối hợp nhịp nhàng giữa Ban Quản lý với các ngành và chính quyền các xã. “Khi chuyên gia của UNESCO đến Óc Eo - Ba Thê họ sẽ nhìn cả di tích lẫn cách con người ứng xử với di tích. Vì vậy, mỗi hành vi nhỏ của cộng đồng và của bộ máy quản lý di tích sẽ có thể tác động đến ấn tượng chung”, ông Nguyễn Văn Nhiên nhấn mạnh.

Sau cơn mưa, nước còn đọng ở các rãnh nhỏ và cỏ mướt xanh. Cảnh ấy nói lên một điều, di sản ở vùng châu thổ không bao giờ “đứng yên”. Nó luôn thay đổi theo thời tiết và theo nhịp sống của con người. Vì vậy, UNESCO không tìm một di tích hoàn hảo. UNESCO tìm một cam kết quản trị đáng tin, được thể hiện bằng hành động cụ thể, bằng kỷ luật quản lý và bằng sự đồng thuận của cộng đồng.

10 hành vi bị cấm tại khu di tích

1. Đào bới trái phép để tìm di vật, cổ vật.

2. Mua bán, trao đổi hiện vật không rõ nguồn gốc.

3. Tự ý mang hiện vật về nhà, cất giữ hoặc tặng cho người khác.

4. Lấn chiếm đất di tích, dựng công trình trái phép trong khu vực bảo vệ.

5. San lấp, cải tạo mặt bằng làm biến dạng nền di tích.

6. Xả rác, đổ chất thải gây ô nhiễm môi trường di tích.

7. Đập phá, làm hư hại dấu tích, bia, biển chỉ dẫn, mốc giới.

8. Tu bổ, sửa chữa trái phép làm thay đổi yếu tố gốc.

9. Tổ chức hoạt động mê tín, lợi dụng di tích để trục lợi.

10. Vận chuyển, đưa trái phép di vật, cổ vật ra khỏi địa bàn hoặc ra nước ngoài.

(Còn tiếp)

VIỆT TIẾN

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

"Non nước Cao Bằng" vinh dự đoạt giải thưởng toàn cầu

  Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng vinh dự là 1 trong 5 CVĐC trên thế giới được Giải thưởng “Mô hình hoạt động hiệu quả của Mạng lưới CVĐC toàn cầu UNESCO”. Hội nghị quốc tế lần thứ 11 của Mạng lưới Công viên địa chất (CVĐCTC) toàn cầu UNESCO (GGN) diễn ra tại Cộng hòa Chi-lê từ ngày 05 – 15/9. Hội nghị GGN lần thứ 11 quy tụ khoảng 1.000 đại biểu, gồm đại diện các CVĐC toàn cầu UNESCO, các CVĐC tiềm năng, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, chính khách và nhà quản lý. Đây là diễn đàn để các CVĐC gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu những mô hình hiệu quả, giải pháp thiết thực trong xây dựng và phát triển danh hiệu CVĐC theo tiêu chí của UNESCO. Hội nghị cũng khẳng định vai trò gắn kết của GGN trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Rất đông đại biểu, du khách ấn tượng không gian văn hóa Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tại Hội nghị GGN lần thứ 11. Tham dự Hội nghị, CVĐC Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng t...