Chuyển đến nội dung chính

Sưu tập đàn đá Đắk Sơn – bảo vật quốc gia đầu tiên ở Đắk Nông

Sưu tập đàn đá Đắk Sơn được phát hiện ngẫu nhiên trong lòng đất, khi người dân đào hố trồng tiêu tại thôn Đắk Sơn, xã Nam Xuân, huyện Krông Nô (tỉnh Đắk Nông) vào năm 2014.

Hiện đàn đá Đắk Sơn đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Đắk Nông. Mới đây, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long đã ký Quyết định số 1712/QĐ-TTg, ngày 31/12/2024 công nhận 33 bảo vật quốc gia (đợt 13, năm 2024), trong đó có bộ sưu tập đàn đá Đắk Sơn. Đây là lần đầu tiên tỉnh Đắk Nông có hiện vật được công nhận danh hiệu này.

Đây là sưu tập gồm 16 thanh đàn đá (lithophone) thời tiền sử, có niên đại cách nay khoảng 3.500 - 3.000 năm; trong đó có 11 thanh nguyên vẹn, 4 thanh gãy đôi và 1 thanh gãy ba nhưng có thể gắn chắp nguyên dạng, có trọng lượng dao động khoảng 1,5 kg - 6,2 kg. Các thanh đàn được chế tác từ đá phiến biến chất, có những tương đồng về đặc trưng cơ bản (như chất liệu, loại hình, kỹ thuật chế tác) với các bộ sưu tập đàn đá ở Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ như sưu tập đàn đá Lộc Hòa (tỉnh Bình Phước), gồm 14 thanh đàn; sưu tập đàn đá Bình Đa (tỉnh Đồng Nai), gồm 51 hiện vật (có 5 thanh nguyên và 46 đoạn, mảnh); sưu tập đàn đá Đa Kai (tỉnh Bình Thuận), gồm 15 thanh và 6 mảnh.

Sưu tập đàn đá Đắk Sơn gồm 16 thanh đàn đá vừa được công nhận là bảo vật quốc gia.

Tuy nhiên, đàn đá Đắk Sơn có những đặc điểm khác nhau nhất định về chất liệu và cách sắp đặt thành các bộ đàn qua tần số âm thanh với các bộ đàn đá khác. Sưu tập đàn đá Đắk Sơn là hiện vật gốc, độc bản, sản phẩm bản địa. Theo kết quả nghiên cứu, phân tích chất liệu, lớp patin, màu sắc, kỹ thuật chế tác còn để lại trên các thanh đàn đá; tần số âm thanh, cách sắp đặt âm nhạc học thành các bộ đàn cho thấy đàn đá Đắk Sơn là một nhạc cụ cổ độc đáo được chế tác có chủ định từ rất xa xưa bởi chính những người thợ thủ công tiền sử có kinh nghiệm rất hoàn hảo từ khâu chọn nguyên liệu đến kỹ thuật chế tác đàn đá thành thạo, điêu luyện với trình độ kỹ thuật cao thể hiện qua dấu tích các vết ghè đẽo, tu chỉnh cẩn thận, tỉ mỉ.

Trên hình dáng, bề mặt các thanh đá còn hiện rõ nhiều dấu vết ghè đẽo phổ biến của hai giai đoạn tạo dáng lần thứ hai và gia công tu chỉnh, trau chuốt lần cuối. Dấu vết ghè tạo dáng lần hai ở cả hai mặt trên và dưới của các thanh đá có kích thước trung bình và nhỏ, trên nhiều vết ghè đẽo còn quan sát được các sóng ghè khá rõ. Ngoài các dấu vết của kỹ thuật ghè - chặt, trên đầu của nhiều thanh đá còn có dấu ghè đẽo thành hình gần như vỏ sò khá lớn, dày từ ngoài vào trong. Vì vậy phần phía đầu các thanh đá thường mỏng hơn thân. Đây là kỹ thuật ghè đẽo được áp dụng khá phổ biến để tạo dáng cho phần đầu thanh đàn đá. Nó tạo cho đầu các thanh đá thành đường thẳng, hoặc lồi hơi nhọn, hoặc hơi lồi hình cung tròn.

Đàn đá Đắk Sơn có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa trên vùng đất Tây Nguyên.

Có thể thấy, với kinh nghiệm, kỹ thuật ghè đẽo - tu chỉnh tích lũy qua hàng ngàn năm trên các công cụ lao động đá, cộng đồng cư dân bản địa ở vùng Tây Nguyên đã chế tác ra các thanh đàn đá có thanh âm trầm bổng khác nhau, tạo nên những bộ đàn đá đúng như ý muốn về loại hình - kiểu dáng, với thanh âm chuẩn, trong một hệ thống giai điệu nhất định. Đây chính là một phản ảnh thể hiện trình độ đỉnh cao trong kỹ thuật và nghệ thuật chế tác đồ đá của cộng đồng cư dân cổ trên vùng đất Tây Nguyên thời tiền sử để tạo tác ra một nhạc cụ cổ độc đáo không giống với bất kỳ một loại hình cổ vật thời tiền sử - sơ sử nào.

Đàn đá Đắk Sơn là sưu tập đàn đá có giá trị văn hóa đặc biệt quan trọng đối với tỉnh Đắk Nông và khu vực Tây Nguyên. Đây là “những sáng tạo văn hóa nghệ thuật bản địa”, tạo lập một không gian văn hóa tinh thần vùng cao nguyên Tây Nguyên và Đồng bằng Nam Bộ trong gần một thiên niên kỷ (từ nửa cuối thiên niên kỷ II đến khoảng giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên). Và cho đến ngày nay, đàn đá vẫn là một loại hình nhạc cụ quý hiếm còn được lưu truyền và sử dụng trong dân gian. Chúng vừa là những nhạc cụ cũng vừa là những vật biểu trưng mang tính nghi lễ trong đời sống văn hóa tinh thần của các cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ khu vực Tây Nguyên.

Nguyễn Cẩm

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ năm 2000

Việt Nam được Ủy ban Sinh quyển và Con người thuộc UNESCO công nhận 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới gồm: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, 2000. Ranh giới thuộc Cần Giờ, (Tp HCM). Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ. UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 21/1/2000 với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn. Nơi đây được công nhận là một khu du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam. Hình thành Trước chiến tranh, Cần Giờ là khu rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú nhưng bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh. Năm 1978, Cần Giờ được sáp nhập về Thành phố Hồ Chí Minh, và năm 1979 UBND thành phố Hồ Chí Minh phát động chiến dịch trồng lại rừng Cần Giờ, thành lập Lâm trường Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ, thuộc Ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi...