Chuyển đến nội dung chính

Tiềm năng di sản tư liệu UNESCO

 Để ngăn chặn sự mất mát không thể phục hồi của ký ức chung, năm 1992, Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã khởi xướng Chương trình Ký ức thế giới (tiếng Anh là Memory of the World-viết tắt là MOW) nhằm mục tiêu bảo vệ các di sản tư liệu, tạo điều kiện cho việc tiếp cận và quảng bá di sản, đồng thời nâng cao nhận thức của công chúng về tầm quan trọng cũng như sự cần thiết phải bảo tồn di sản tư liệu.

Tài liệu Hướng dẫn chung về bảo vệ di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới xuất bản năm 2002 nhấn mạnh: “Chương trình Ký ức thế giới ra đời nhằm ghi nhận những di sản tư liệu có giá trị, mang tầm quan trọng cấp quốc tế, khu vực và quốc gia nhằm hướng sự chú ý của cộng đồng vào việc gìn giữ các sưu tập tài liệu quý, hiếm và tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn và tiếp cận chúng".

UNESCO phân biệt 3 loại hình di sản là: Di sản thế giới (trong đó có di sản văn hóa vật thể và phi vật thể), di sản thiên nhiên và di sản hỗn hợp (đây là hai loại di sản nằm trong lĩnh vực văn hóa) và di sản tư liệu nằm trong lĩnh vực thông tin và truyền thông bởi tính chất di sản tư liệu có chứa đựng thông tin, thông điệp có nội dung có thể đọc, hiểu, đồng thời có thể trao truyền cho các thế hệ sau. Theo UNESCO, di sản tư liệu có thể chỉ là một tài liệu đơn lẻ của bất kỳ loại hình nào, hoặc có thể là một nhóm tài liệu như một sưu tập, một phông tài liệu hoặc một phông lưu trữ có giá trị quan trọng và lâu dài đối với một cộng đồng, một nền văn hóa, một quốc gia hay đối với nhân loại nói chung và sự xuống cấp hoặc mất mát của những tài liệu đó sẽ làm nghèo đi di sản chung của nhân loại.

Tiềm năng di sản tư liệu UNESCO

33 số báo Quân đội nhân dân xuất bản tại Mặt trận Điện Biên Phủ được trưng bày trang trọng tại Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Ảnh: HỒNG SÁNG

Chương trình Ký ức thế giới ra đời nhằm hỗ trợ các quốc gia thành viên trong việc bảo tồn di sản tư liệu nói chung và ghi danh những di sản tư liệu mang giá trị toàn cầu hoặc đối với khu vực. Có 3 loại danh mục di sản tư liệu, đó là danh mục cấp quốc tế, khu vực và quốc gia. Đến nay đã có 570 di sản tư liệu thế giới và 76 di sản tư liệu cấp khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Từ khi tham gia Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO đến nay, song song với các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức về di sản tư liệu của cộng đồng xã hội và các cơ quan di sản như lưu trữ, thư viện, bảo tàng, viện nghiên cứu, các cá nhân, gia đình, dòng họ... Việt Nam đã sở hữu 11 di sản tư liệu được UNESCO ghi danh vào danh mục di sản tư liệu cấp khu vực và thế giới với các chất liệu khác nhau như gỗ, đá, giấy, đồng... Mỗi danh mục dù ở cấp quốc tế, khu vực hay quốc gia đều dựa trên các tiêu chí nhằm đánh giá ý nghĩa quốc tế của di sản tư liệu cũng như tầm ảnh hưởng của nó ở cấp quốc tế, khu vực hay quốc gia.

Tại Việt Nam, Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 năm 2024 có hiệu lực từ ngày 1-7-2025 lần đầu tiên có một chương về di sản tư liệu, trong đó, Điều 53 quy định việc phân loại và tiêu chí nhận diện di sản tư liệu: “Di sản tư liệu gồm 2 thành tố là nội dung thông tin và vật mang tin. Di sản tư liệu bao gồm: Nội dung thông tin được thể hiện bằng ký tự, mật mã, chữ viết, hình vẽ trên vật mang tin là lá cây, xương, gỗ, đá, gốm, giấy, nhựa, vải, kính, kim loại hoặc trên vật mang tin có chất liệu khác; được thể hiện bằng âm thanh, hình ảnh tĩnh, động trên vật mang tin là phim, ảnh, bản ghi, bản thu âm và các vật mang tin gốc khác; được thể hiện bằng dạng số trên vật mang tin chứa đựng dữ liệu điện tử”.

Như vậy, đối chiếu với các tiêu chí của Luật Di sản văn hóa của Việt Nam cũng như của UNESCO, 33 số báo Quân đội nhân dân xuất bản tại Mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954 có nhiều tiêu chí đáp ứng với một di sản tư liệu:

Tính xác thực: 33 số báo Quân đội nhân dân xuất bản tại Mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954 là hiện vật gốc độc bản, đã được sưu tầm, bảo quản và lưu giữ tại Báo Quân đội nhân dân từ năm 1954 đến nay.

Xuất xứ của di sản: Ra đời trong bối cảnh lịch sử vô cùng đặc biệt và ý nghĩa, 33 số báo Quân đội nhân dân được xuất bản và phát hành ngay tại Mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954 trong bối cảnh diễn ra Chiến dịch Điện Biên Phủ, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn khốc liệt và sôi động nhất. Vào ngày 27-11-1953, Tổng cục Chính trị ra “Chỉ thị về công tác chính trị tư tưởng trong Đông Xuân 1953-1954”. Tại hang Thẩm Púa, số đầu tiên Báo Quân đội nhân dân tiền phương đã ra đời vào ngày 28-12-1953, đánh số 116 (cùng với số của tờ báo Quân đội nhân dân ở hậu phương). Ngày 31-1-1954, Sở chỉ huy chiến dịch chuyển về Mường Phăng thì tòa soạn cũng được đi theo, tiếp tục xuất bản báo. Số báo cuối cùng đánh dấu sự hoàn thành vai trò lịch sử của Báo Quân đội nhân dân tiền phương ghi ngày 16-5-1954, kết thúc sau chiến thắng Chiến dịch Điện Biên Phủ 9 ngày.

Giá trị lịch sử: 33 số báo Quân đội nhân dân xuất bản tại Mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954 là vật chứng duy nhất làm cơ sở cho việc xác định các mốc son lịch sử trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, những vấn đề lý luận, phương châm, phương pháp chỉ đạo kháng chiến giành độc lập dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp... trong kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Đây là nguồn sử liệu quý để nghiên cứu lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Liên quan đến một số nhân vật có tầm ảnh hưởng trong nước và thế giới: Tên báo được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên. Các số báo là bằng chứng lịch sử sống động về một giai đoạn quyết định của cuộc chiến, bao gồm cả những bài viết và chỉ thị quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Các bài báo đã thể hiện tư tưởng, hồn cốt của bài viết là của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp.

Tình trạng bảo quản: Bộ sưu tập hiện lưu trữ tại tòa soạn Báo Quân đội nhân dân, được bảo quản trong hộp phi axit, đặt trên hệ thống giá kệ chuyên dụng, tuy nhiên tình trạng vật lý đang bị xuống cấp “các bìa màu đỏ đã ngả màu, ố, sờn, rách vải bọc. Chữ viết trong từng trang đang có dấu hiệu mờ dần”.

Bối cảnh biên tập, in ấn tờ báo tại tiền phương: Từ cuối năm 1953, Báo Quân đội nhân dân bắt tay vào chuẩn bị một tòa soạn Báo Quân đội nhân dân thứ hai, gọi là tòa soạn Báo Quân đội nhân dân tiền phương. Chưa có một chiến dịch nào trước đó phóng viên Báo Quân đội nhân dân lại được đi đông và tập trung như chiến dịch này: 5 người, với đầy đủ phương tiện kỹ thuật đủ cho một tòa soạn, nhà in báo hoạt động.

Cùng với các loại hình di sản văn hóa khác, di sản tư liệu có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam vì chúng là những bằng chứng xác thực ghi lại dấu ấn lịch sử cho các sự kiện, con người Việt Nam trong mỗi giai đoạn đầy gian khổ và hào hùng như Chiến dịch Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”.

Với những tiềm năng của 33 số báo Quân đội nhân dân xuất bản tại Mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954 đáp ứng nhiều tiêu chí của một di sản tư liệu thế giới, thiết nghĩ đơn vị chủ quản cần tập trung nghiên cứu để chứng minh rõ nét những giá trị của di sản theo hướng dẫn của UNESCO về Chương trình Ký ức thế giới để xây dựng hồ sơ đề cử một cách khoa học và có sức thuyết phục mạnh mẽ.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...

"Non nước Cao Bằng" vinh dự đoạt giải thưởng toàn cầu

  Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng vinh dự là 1 trong 5 CVĐC trên thế giới được Giải thưởng “Mô hình hoạt động hiệu quả của Mạng lưới CVĐC toàn cầu UNESCO”. Hội nghị quốc tế lần thứ 11 của Mạng lưới Công viên địa chất (CVĐCTC) toàn cầu UNESCO (GGN) diễn ra tại Cộng hòa Chi-lê từ ngày 05 – 15/9. Hội nghị GGN lần thứ 11 quy tụ khoảng 1.000 đại biểu, gồm đại diện các CVĐC toàn cầu UNESCO, các CVĐC tiềm năng, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, chính khách và nhà quản lý. Đây là diễn đàn để các CVĐC gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu những mô hình hiệu quả, giải pháp thiết thực trong xây dựng và phát triển danh hiệu CVĐC theo tiêu chí của UNESCO. Hội nghị cũng khẳng định vai trò gắn kết của GGN trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Rất đông đại biểu, du khách ấn tượng không gian văn hóa Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tại Hội nghị GGN lần thứ 11. Tham dự Hội nghị, CVĐC Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng t...