Chuyển đến nội dung chính

Hoàn thiện hồ sơ đưa ngôi chùa nổi tiếng, hiếm có của Việt Nam trở thành Di sản của UNESCO vào năm 2030

 Lễ hội du lịch Chùa Hương năm 2026 được xem là một phép thử trong bối cảnh Hà Nội đang từng bước hoàn thiện hồ sơ đề cử UNESCO công nhận là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới vào năm 2030.

Hiện nay, thành phố Hà Nội cùng Ban Quản lý Khu di tích Chùa Hương đang tích cực triển khai công tác chuẩn bị cho Lễ hội du lịch truyền thống Chùa Hương năm 2026. Theo kế hoạch, lễ hội sẽ diễn ra trong thời gian từ ngày 18/2 đến ngày 11/5/2026 (tức từ mùng 2 tháng Giêng đến ngày 25/3 năm Bính Ngọ). Lễ khai hội dự kiến tổ chức vào ngày 22/2/2026, tức mùng 6 tháng Giêng.

Không gian lễ hội trải rộng trên toàn bộ Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Chùa Hương, bao gồm 4 tuyến tham quan chủ đạo với tổng cộng 20 điểm đền, chùa và động thờ Phật. Sau khi kết thúc phần lễ hội truyền thống, các hoạt động du lịch văn hóa, tâm linh, trải nghiệm, thể thao và nghệ thuật tiếp tục được duy trì nhằm kéo dài thời gian lưu trú của du khách, từng bước hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bốn mùa.

Hoàn thiện hồ sơ đưa ngôi chùa nổi tiếng bậc nhất Thủ đô trở thành Di sản của UNESCO - ảnh 1
Năm nay, lễ hội Chùa Hương sẽ diễn ra trong thời gian từ ngày 18/2 đến ngày 11/5/2026 (tức từ mùng 2 tháng Giêng đến ngày 25/3 năm Bính Ngọ). Ảnh minh họa

Lễ hội Chùa Hương không chỉ mang ý nghĩa của một sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng lâu đời mà còn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược bảo tồn giá trị di sản gắn với định hướng phát triển du lịch bền vững của Thủ đô.

Phần lễ được tổ chức trang nghiêm, tuân thủ chặt chẽ các nghi thức Phật giáo và tín ngưỡng dân gian, gửi gắm ước nguyện về quốc thái dân an, thiên nhiên thuận hòa, đời sống bình yên và hạnh phúc cho cộng đồng. Ban Quản lý tăng cường kiểm soát các hoạt động mang tính thương mại và hạn chế âm thanh phô trương, góp phần tái hiện không gian tôn nghiêm của Chùa Hương.

Phần hội được tổ chức theo hướng chọn lọc, chú trọng các loại hình nghệ thuật dân gian, sinh hoạt cộng đồng và hoạt động giáo dục, hạn chế xu hướng thương mại hóa lễ hội đang xuất hiện phổ biến ở nhiều địa phương.

Đây là những hoạt động phản ánh quan điểm bảo tồn lễ hội không chỉ dừng lại ở việc duy trì nghi thức, mà còn bao hàm việc gìn giữ văn hóa ứng xử, cảm quan thẩm mỹ cộng đồng và sự hài hòa trong đời sống tín ngưỡng.

Hoàn thiện hồ sơ đưa ngôi chùa nổi tiếng bậc nhất Thủ đô trở thành Di sản của UNESCO - ảnh 2
Người dân địa phương và du khách thập phương đến Chùa Hương trẩy hội, chiêm bái. Ảnh: Internet

Lễ hội du lịch Chùa Hương năm 2026 cũng được đánh giá là một phép thử quan trọng đối với Hà Nội trong quá trình xây dựng một điểm đến văn hóa - tâm linh có chiều sâu, hướng tới hình thành khu du lịch quốc gia trong năm nay, đồng thời từng bước hoàn thiện hồ sơ đề cử UNESCO công nhận là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới vào năm 2030.

Quần thể di tích Chùa Hương tọa lạc tại xã Hương Sơn, thành phố Hà Nội. Nơi đây từ lâu được xem là một thắng cảnh độc đáo, hiếm có ở Việt Nam. Nhắc đến Chùa Hương, người ta thường nhớ ngay tới không gian văn hóa - tâm linh hài hòa giữa thiên nhiên và con người, với hệ thống núi non trùng điệp, rừng Hương Sơn có cấu trúc ba tầng thảm thực vật phong phú và dòng suối Yến trong xanh, mềm mại dẫn lối du khách vào cõi Phật.

Hằng năm, Chùa Hương đón khoảng 1 triệu lượt khách thập phương về tham quan, chiêm bái và trẩy hội. Đến với nơi đây, du khách được thưởng ngoạn bức tranh sơn thủy hữu tình với núi non, hang động cùng hệ thống chùa chiền gắn liền với những sự tích về Phật tu hành đắc đạo, để lại dấu ấn linh thiêng trên vùng đất này.

Quần thể di tích Chùa Hương có nhiều công trình tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó nổi bật là đền Trình. Ngôi đền được xây dựng dưới chân một dãy núi gồm năm ngọn. Theo sử liệu, đền Trình trước đây có quy mô đồ sộ với tòa Đại bái rộng lớn. Tuy nhiên, do tác động của thời gian và sự tàn phá của chiến tranh, hiện nay công trình chỉ còn lại ba gian Hậu cung.

Hoàn thiện hồ sơ đưa ngôi chùa nổi tiếng bậc nhất Thủ đô trở thành Di sản của UNESCO - ảnh 3
Khung cảnh núi non hữu tình ở Chùa Hương. Ảnh: Internet

Đền thờ Hùng Lang Đại Vương - vị tướng có công phò trợ Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân. Sau khi đất nước thái bình, ông trở về sinh sống cùng nhân dân làng Yến Vĩ, khi mất được lập đền thờ phụng. Theo quan niệm dân gian, du khách trước khi vào chùa Hương thường ghé đền Trình dâng hương để “trình” việc đã đặt chân tới cõi Phật.

Đền Trình có địa thế đặc biệt, lưng tựa vào núi, mặt hướng ra bến Đục. Không gian hòa quyện cùng cảnh sắc thiên nhiên hữu tình mang đến cho du khách sự bình yên, tĩnh tại. Trước sân đền xưa kia từng có nhiều tác phẩm điêu khắc bằng đá xanh như tượng voi và cột đèn lồng. Ngày nay, công trình được phục dựng với hai hạng mục chính là tòa Đại bái và Hậu cung; các chi tiết voi đá, cột đèn được đắp dựng lại theo bố cục truyền thống. Hệ thống đồ thờ được bài trí trang nghiêm, góp phần tôn lên vẻ đẹp cổ kính của ngôi đền giữa không gian núi non, suối nước và những hàng cây lâu năm xanh tốt.

Dọc hai bên suối Yến là những dãy núi đá nhấp nhô soi bóng xuống mặt nước, tạo nên khung cảnh thơ mộng. Mỗi ngọn núi đều mang một tên gọi riêng như núi Đổi Chèo, núi Bưng, núi Con Voi, núi Mâm Xôi; phía bên phải là Vụng Mát, núi Ba Đài, núi Con Gà và núi Giải Cờ. Mỗi địa danh đều gắn với những câu chuyện truyền khẩu mang màu sắc huyền tích. Chẳng hạn, núi Con Voi có vách đá dựng đứng, được lý giải là do “voi” không quay đầu về đất Phật nên bị trừng phạt. Những truyền thuyết ấy góp phần làm tăng sức hấp dẫn cho du khách trước khi bước vào hành trình chiêm bái chốn linh thiêng.

Hoàn thiện hồ sơ đưa ngôi chùa nổi tiếng bậc nhất Thủ đô trở thành Di sản của UNESCO - ảnh 4
Đụn Gạo ở động Hương Tích. Ảnh: Internet

Nổi bật trong quần thể thắng cảnh là động Hương Tích, được mệnh danh là “Nam Thiên đệ nhất động”, tức hang động đẹp nhất trời Nam. Danh xưng này do Chúa Trịnh Sâm ban tặng vào năm 1770 sau chuyến vãn cảnh Hương Sơn, nhằm ca ngợi vẻ đẹp kỳ ảo, tráng lệ của hệ thống thạch nhũ tự nhiên nơi đây. Động được ví như một hàm rồng khổng lồ, bên trong là thế giới nhũ đá phong phú với nhiều hình thù sinh động như cây vàng, cây bạc, bầu sữa mẹ, núi Cô, núi Cậu.

Trong cách gọi dân gian, chùa Thiên Trù thường được gọi là chùa Ngoài, còn động Hương Tích được xem là chùa Trong. Dù quần thể Hương Sơn có nhiều di tích, song với nhiều du khách, động Hương Tích gần như là điểm đến không thể thiếu, bởi theo quan niệm xưa: “đến Hương Sơn mà chưa vào động Hương Tích thì coi như chưa tới”.

Đây cũng là nơi thờ Phật Quan Thế Âm, nổi tiếng với pho tượng Quan Âm bằng đá xanh có niên đại từ thời Tây Sơn, mang giá trị lớn về lịch sử, nghệ thuật và tín ngưỡng. Giá trị đặc biệt của Chùa Hương đã sớm được ghi nhận khi năm 1925, chính quyền Đông Dương xếp hạng nơi đây là di tích, đến năm 1962 được công nhận là Di tích Quốc gia.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...