Chuyển đến nội dung chính

Non nước Cao Bằng mùa Đông - Vẻ đẹp bình dị giữa Công viên địa chất toàn cầu

 Mùa Đông, không gian Công viên địa chất (CVĐC) Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng hiện lên trọn vẹn nhất với vẻ đẹp nguyên sơ, trầm tĩnh. Cao Bằng mùa này đẹp theo cách rất riêng - vẻ đẹp của sự bền bỉ, hài hòa giữa thiên nhiên, con người và lịch sử, địa chất.

Không gian di sản, địa chất sống động giữa núi rừng

Công viên địa chất Non nước Cao Bằng trải rộng trên nhiều xã, là nơi hội tụ hệ thống núi đá vôi, hang động, thung lũng, sông, suối hình thành qua hàng trăm triệu năm. Mùa này, khi thời tiết mát lạnh, bầu trời trong xanh, từng lớp núi đá vôi xếp chồng lên nhau hiện rõ những đường nét đặc trưng của tiến trình kiến tạo địa chất lâu dài.

Dọc theo các tuyến đường địa chất, du khách dễ dàng cảm nhận sự thay đổi của không gian: khi là thung lũng rộng mở với những cánh đồng xanh mướt, khi là con đèo uốn lượn ôm trọn sườn núi đá xám trầm. Mỗi khúc cua, mỗi điểm dừng chân đều mang đến một lát cắt khác nhau của vùng đất địa đầu Tổ quốc.

“Đi giữa không gian CVĐC, tôi có cảm giác như đang bước vào một bảo tàng ngoài trời khổng lồ, nơi mỗi ngọn núi, mỗi dòng sông đều có câu chuyện riêng”, anh Nguyễn Văn Hưng, du khách đến từ Hà Nội chia sẻ trong chuyến trải nghiệm cuối tuần tại Cao Bằng.

Đến với làng nghề làm hương Phja Thắp (xã Quảng Uyên), du khách sẽ cảm nhận được mùi hương trầm, hương thảo mộc thoang thoảng trong gió, gợi cảm giác yên bình rất riêng. Nghề làm hương ở Phja Thắp không chỉ là kế sinh nhai, mà còn là nếp sống truyền thống được gìn giữ qua nhiều thế hệ. 

Du khách trải nghiệm nghề làm hương Phja Thắp (xã Quảng Uyên).
Du khách trải nghiệm nghề làm hương Phja Thắp (xã Quảng Uyên).

Cách Phja Thắp không xa là làng rèn Phúc Sen, nơi tiếng búa, tiếng đe vang lên đều đặn từ sáng sớm. Nghề rèn ở đây nổi tiếng bởi kỹ thuật thủ công truyền thống, cho ra những sản phẩm bền, sắc, gắn bó với đời sống sản xuất của người dân vùng cao.

Giữa không gian núi đá vôi đặc trưng của CVĐC, hình ảnh những người thợ rèn bên bếp lửa đỏ hồng tạo nên sự tương phản sinh động: cứng cáp mà ấm áp. “Tôi từng thấy nhiều làng nghề, nhưng Phúc Sen để lại ấn tượng rất mạnh. Không gian địa chất và nghề rèn hòa vào nhau một cách tự nhiên”, anh Nguyễn Văn Hưng, du khách đến từ Hà Nội cho biết thêm.

Không phải mùa thác nước cuộn trào mạnh mẽ, nhưng chính sự hiền hòa của thiên nhiên lại làm nên nét quyến rũ rất riêng cho Cao Bằng thời điểm này. Dòng Quây Sơn lặng lẽ trôi qua những dải đá vôi, phản chiếu mây trời và sắc xanh của núi rừng. Thác Bản Giốc không ồn ào, dữ dội mà mềm mại, khoan thai, phô bày rõ hình khối giữa không gian rộng lớn của vùng biên viễn.

Những con đường nhỏ dẫn vào bản làng trong vùng CVĐC trở nên yên tĩnh hơn. Tiếng gió thổi qua tán cây, tiếng nước chảy khe khẽ dưới chân núi đủ để tạo nên một bản hòa âm nhẹ nhàng của thiên nhiên. Với nhiều du khách, đây là thời điểm lý tưởng để “đi chậm”, để cảm nhận Cao Bằng không chỉ bằng thị giác, mà bằng cả cảm xúc.

Điều làm nên sức sống bền bỉ của CVĐC Non nước Cao Bằng không chỉ là địa hình, cảnh quan mà còn là con người - những cộng đồng dân cư đã sinh sống, thích nghi và gắn bó với vùng đất đá vôi này qua nhiều thế hệ.

Trong các bản làng của đồng bào Tày, Nùng, Mông, Dao…, nhịp sống vẫn chậm rãi, gần gũi với thiên nhiên. Mùa này, người dân tranh thủ chăm sóc nương rẫy, thu hái rau rừng, sửa sang nhà cửa. Những nếp nhà sàn nép mình bên sườn núi, làn khói bếp mỏng bay lên mỗi chiều tạo nên khung cảnh ấm áp, bình yên.

Những bản làng người Tày nép mình bên sườn núi, tạo nên khung cảnh ấm áp, bình yên.
Những bản làng người Tày nép mình bên sườn núi, tạo nên khung cảnh ấm áp, bình yên.

Ông Hoàng Văn Lý, người dân xóm Khuổi Ky, xã Đàm Thủy chia sẻ: Chúng tôi sống cùng núi, cùng đá từ bao đời nay. Núi cho đất làm nương, cho đá làm nhà, cho nước từ khe suối. Giờ khách du lịch đến nhiều hơn, nhưng bà con vẫn mong giữ được nếp sống cũ, giữ cho núi rừng không bị xáo trộn.

Thiên nhiên - văn hóa hòa quyện

Trong không gian CVĐC, văn hóa bản địa hiện diện một cách tự nhiên, không sắp đặt. Đó là tiếng đàn tính, làn điệu Then vang lên trong những buổi sinh hoạt cộng đồng; là những lễ tục gắn với vòng đời cây lúa, con người; là những phiên chợ vùng cao giản dị nhưng đậm đà bản sắc.

Ẩm thực mùa này cũng phản ánh rõ mối quan hệ mật thiết giữa con người và thiên nhiên. Rau rừng theo mùa, cá suối, các món ăn chế biến từ nông sản địa phương mang hương vị mộc mạc, chân thật. “Ăn một bữa cơm ở bản, tôi cảm nhận được sự tinh tế trong tính cách người Cao Bằng trân trọng sản vật núi rừng”, anh Nguyễn Ánh Đông, du khách đến từ Hải Phòng cho biết.

Non nước Cao Bằng không chỉ là điểm đến để ngắm nhìn, mà còn là không gian giáo dục, trải nghiệm về địa chất, môi trường và văn hóa. Những tuyến du lịch trong CVĐC ngày càng được tổ chức theo hướng bền vững, khuyến khích du khách tìm hiểu, tôn trọng và gìn giữ giá trị bản địa.

Non nước Cao Bằng mùa này không phô trương, không ồn ào. Vẻ đẹp của vùng CVĐC toàn cầu nằm ở sự bình dị, nguyên sơ và cảm giác an yên mà nó mang lại. Đó là khi đứng trước núi rừng hàng trăm triệu năm tuổi, con người tự nhiên thấy mình nhỏ lại; là khi rời đi, trong lòng vẫn còn vẹn nguyên cảm giác nhẹ nhõm, thư thái.

Giữa nhịp sống hiện đại ngày càng gấp gáp, Non nước Cao Bằng với không gian CVĐC toàn cầu giống như một khoảng lặng quý giá. Một khi đã đặt chân đến, người ta không chỉ mang về những bức ảnh đẹp, mà còn mang theo cảm xúc sâu lắng về một miền non nước bình dị, bền bỉ và đầy sức sống.           

     Minh Hòa

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...