Chuyển đến nội dung chính

Óc Eo - Ba Thê trên chặng đường đến Di sản thế giới - Bài 4: Từ bản đồ, phụ lục đến cuộc thẩm định thực địa

 Óc Eo - Ba Thê đang chạy nước rút với một “bài thi” đặc biệt: Hồ sơ trình UNESCO phải đủ thuyết phục trên giấy, để rồi chịu kiểm tra bằng chính thực địa. Hạn chót 17 giờ GMT ngày 30/1/2026 đặt áp lực lên từng trang bản đồ, từng phụ lục, từng câu chữ tiếng Anh. Bởi ranh giới, tọa độ và cơ chế quản lý trong hồ sơ sẽ được đối chiếu trực tiếp khi chuyên gia quốc tế bước vào cuộc thẩm định hiện trường trong năm 2026.

Buổi tối, phòng họp tại Ban Quản lý Di tích văn hóa Óc Eo vẫn sáng đèn. Trên bàn là những bản đồ in khổ lớn. Trên màn hình là bản thảo tiếng Anh kèm chú thích. Bên cạnh là tập phụ lục dày, được kẹp theo từng nhóm nội dung. Những người ngồi trong phòng không nói nhiều, vì họ hiểu rằng sai một chi tiết nhỏ có thể kéo theo một chuỗi sai sót lớn. Trong những buổi làm việc như vậy, di sản không còn là khái niệm trừu tượng mà hiện ra dưới hình thức rất cụ thể: Đường ranh vùng lõi, đường ranh vùng đệm, tọa độ, ký hiệu bản đồ, quy định quản lý, cùng một hệ thống luận cứ phải đủ sức thuyết phục.

Trong điều kiện đó, tôi hiểu rằng hành trình Óc Eo - Ba Thê đến UNESCO bắt đầu từ một bộ hồ sơ phải đúng khung, đúng dữ liệu và đúng tinh thần của Công ước về Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới (năm 1972). Khi hồ sơ được hoàn thiện, UNESCO mới có cơ sở để bước vào giai đoạn đánh giá thực địa.

Nhóm chuyên gia quốc tế nghiên cứu thực địa Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê. Ảnh Ban Quản lý Di tích văn hóa Óc Eo cung cấp

“Bài thi” của chứng cứ và quản lý

Tiến sĩ Trương Đắc Chiến - cán bộ Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, thành viên tổ soạn thảo hồ sơ đề cử Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê nói rằng, hồ sơ trình UNESCO giống một “bộ hồ sơ đi thi”, vì mọi nội dung đều phải trả lời được những câu hỏi cơ bản của UNESCO: Tại sao di sản này quan trọng đối với nhân loại? Di sản này đáp ứng tiêu chí nào? Những thuộc tính nào tạo nên giá trị nổi bật toàn cầu? Di sản có còn toàn vẹn và xác thực hay không? Di sản được bảo vệ bằng cơ chế nào? Ai chịu trách nhiệm quản lý? Cộng đồng tham gia ra sao? Kế hoạch dài hạn được tổ chức như thế nào?

Trong cấu trúc hồ sơ đề cử, phần trung tâm là giá trị nổi bật toàn cầu và các tiêu chí đề cử. Hồ sơ của Óc Eo - Ba Thê tập trung vào tiêu chí II và tiêu chí III, cùng hệ thống luận cứ về giao thoa văn hóa và minh chứng cho một nền văn minh cảng thị biển sớm. Tuy nhiên, UNESCO không “chấm điểm” bằng lời kể mà yêu cầu hồ sơ phải chứng minh bằng chứng cứ, gồm dấu tích, hiện vật và cấu trúc không gian.

Bên cạnh phần giá trị là phần ranh giới và bản đồ pháp lý. Ranh giới vùng lõi và vùng đệm phải được xác định rõ, vì đây là nền tảng cho cơ chế bảo vệ. Bản đồ không chỉ là hình ảnh minh họa mà là căn cứ quản lý và là cam kết thể hiện trên thực địa. Vì vậy, hồ sơ phải có bản đồ đúng chuẩn, thông số rõ ràng, ký hiệu thống nhất và giá trị pháp lý.

Một phần quan trọng khác là kế hoạch quản lý. Kế hoạch quản lý phải chỉ ra cơ chế phối hợp giữa các cấp, ngành và cộng đồng. Kế hoạch cũng phải chứng minh tính khả thi gồm: Nguồn lực, lộ trình thực hiện và cách kiểm soát các nguy cơ xâm hại. Những nội dung ấy phải bám đúng khung UNESCO, tránh lan man, tránh kể dài mà thiếu trọng tâm.

Tiến độ hồ sơ của Óc Eo - Ba Thê được đẩy nhanh bằng một chuỗi hoạt động khoa học và thẩm định. Theo các báo cáo tiến độ, địa phương tổ chức hội thảo khoa học quốc tế vào ngày 30/7/2025 để tham vấn về giá trị nổi bật toàn cầu và tiêu chí đề cử. Tiếp đó, hội thảo ngày 4/9/2025 tập trung góp ý bản thảo hồ sơ và kế hoạch quản lý. Đến ngày 24/11/2025, hội nghị khoa học lần thứ ba tại Hà Nội tiếp tục hoàn thiện luận cứ, thuật ngữ và hệ thống bản đồ trước khi bước vào giai đoạn chốt bản thảo.

Điểm thời sự nhất của giai đoạn này nằm ở phản hồi của Trung tâm Di sản Thế giới sau rà soát kỹ thuật đối với hồ sơ dự thảo. Rà soát kỹ thuật là bước góp ý nhằm hoàn thiện nội dung theo hướng dẫn của Công ước về Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới (năm 1972), nhưng bước này không thay cho đánh giá tính đầy đủ của hồ sơ nộp chính thức. UNESCO cũng nhắc hạn chót tiếp nhận hồ sơ là 17 giờ GMT ngày 30/1/2026. UNESCO nêu rõ hồ sơ chỉ được xem là đã nộp khi Ban Thư ký nhận bản giấy theo quy định. Điều này khiến mọi khâu phải vận hành chính xác, vì việc chậm trễ có thể làm hồ sơ phải lùi sang chu kỳ sau.

Theo Tiến sĩ Trương Đắc Chiến, hồ sơ đòi hỏi khối lượng công việc kỹ thuật rất nặng. Tổ soạn thảo phải rà soát từng thuật ngữ, vì sai thuật ngữ có thể làm lệch nghĩa. Tổ soạn thảo phải thống nhất mốc thời gian, niên đại và mô tả thuộc tính, vì sai dữ liệu có thể làm giảm độ tin cậy. Tổ soạn thảo phải chuẩn hóa bản đồ, vì bản đồ là “xương sống” của quản lý. Tổ soạn thảo cũng phải hoàn thiện bản tiếng Anh với độ chính xác cao, vì tiếng Anh là ngôn ngữ làm việc của UNESCO và là nơi thể hiện sự nhất quán của lập luận.

Chất lượng hồ sơ là “lõi” của hành trình UNESCO

Chuyến học tập kinh nghiệm tại Quảng Ninh vào cuối tháng 11/2025, chúng tôi đúc kết nhiều điều sát thực tế. Điều đầu tiên là hồ sơ phải cô đọng, rõ trọng tâm và bám đúng hướng dẫn UNESCO. Một hồ sơ viết dài nhưng thiếu cấu trúc sẽ làm suy yếu lập luận. Thứ hai là bản đồ phải chuẩn pháp lý, phải rõ ranh giới, rõ thuộc tính cần bảo vệ và rõ cơ chế kiểm soát. Nếu bản đồ mơ hồ, thực địa sẽ phát sinh rủi ro tranh chấp và xâm hại. Thứ ba là tham vấn cộng đồng phải có thực chất. UNESCO đánh giá cao sự đồng thuận của người dân trong vùng di sản, vì cộng đồng là lực lượng bảo vệ trực tiếp. Khi người dân chưa hiểu hoặc chưa đồng thuận, kế hoạch quản lý sẽ khó bền. Thứ tư là địa phương phải chuẩn bị kịch bản đón chuyên gia thẩm định thực địa. Kịch bản cần gồm tuyến khảo sát, hệ thống thuyết minh, cách trưng bày thông tin, nhận diện ranh giới và cơ chế phối hợp. Nhiều địa phương đi trước cũng khuyến nghị việc mời phản biện độc lập, ưu tiên có tính quốc tế để tìm điểm yếu của hồ sơ và chuẩn bị phần giải trình.

Từ những điều trên, một nhận định được nhắc đi, nhắc lại là ngoại giao cần thiết nhưng chất lượng hồ sơ là phần lõi. Nếu hồ sơ thiếu chứng cứ, ngoại giao khó thay thế. Nếu hồ sơ chặt chẽ, công tác vận động sẽ có nền tảng vững hơn.

Những ngày qua, Ban Quản lý Di tích văn hóa Óc Eo và các chuyên gia trong, ngoài nước cật lực hoàn tất một số nhiệm vụ then chốt. Nhiệm vụ đầu tiên là điều chỉnh và chốt khoanh vùng bảo vệ ở những điểm trọng yếu, vì ranh giới là cơ sở pháp lý cho bảo tồn. Nhiệm vụ tiếp theo là củng cố hạ tầng tối thiểu phục vụ quản lý và tham quan gồm: Đường tiếp cận hợp lý, biển chỉ dẫn rõ ràng, vệ sinh môi trường và phương án bảo vệ hiện trường. Nhiệm vụ thứ ba là nâng chất trưng bày và bảo quản hiện vật, vì trưng bày là nơi thể hiện năng lực diễn giải và giáo dục cộng đồng. Nhiệm vụ thứ tư là tăng cường truyền thông cộng đồng, vì sự đồng thuận của người dân là điều kiện rất quan trọng để duy trì tính toàn vẹn và xác thực. “Nếu hồ sơ được chấp nhận, trong năm 2026 sẽ diễn ra cuộc thẩm định thực địa của UNESCO. Công tác chuẩn bị phải được triển khai sớm, vì thẩm định thực địa đánh giá cả di tích lẫn cách quản lý di tích”, Phó Giám đốc Ban Quản lý Di tích văn hóa Óc Eo Nguyễn Khắc Nguyên nói.

Khi chuyên gia và cán bộ Ban Quản lý Di tích văn hóa Óc Eo rời phòng họp, bản đồ được cuộn lại gọn gàng. Những tập phụ lục được xếp theo thứ tự, màn hình đã tắt và giấy tờ được thu dọn. Những người này có thể mệt, nhưng không thể lơ là, vì đây là thời điểm quyết định. Chinh phục UNESCO là “bài thi” của năng lực phối hợp và năng lực ấy được kiểm tra bằng từng chi tiết nhỏ trong hồ sơ, rồi bằng từng chi tiết cụ thể trên thực địa.

10 việc phải làm trước đợt khảo sát của chuyên gia UNESCO

1. Hoàn thiện và cắm mốc rõ ràng ranh giới vùng lõi, vùng đệm trên thực địa.

2. Chuẩn hóa hệ thống biển chỉ dẫn, biển thông tin theo ngôn ngữ dễ hiểu và thống nhất.

3. Rà soát hiện trường các điểm khảo sát chính, bảo đảm sạch, an toàn và có phương án bảo vệ.

4. Chuẩn bị tuyến khảo sát thực địa hợp lý, có thời gian, điểm dừng và nội dung thuyết minh cụ thể.

5. Chuẩn hóa nội dung thuyết minh, bảo đảm đúng thuật ngữ, đúng dữ liệu và thống nhất với hồ sơ.

6. Nâng chất trưng bày, bảo quản hiện vật, bảo đảm điều kiện an toàn và thông tin minh bạch.

7. Tổ chức tham vấn cộng đồng, ghi nhận ý kiến và chuẩn bị tài liệu thể hiện sự đồng thuận.

8. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành trong đón tiếp, bảo vệ và cung cấp thông tin khi khảo sát.

9. Chuẩn bị bộ tài liệu giải trình gồm những câu hỏi khó, phương án trả lời và căn cứ kèm theo.

10. Tổ chức diễn tập nội bộ trước khảo sát, rút kinh nghiệm theo từng tình huống phát sinh.

(Còn tiếp)

VIỆT TIẾN

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...