Chuyển đến nội dung chính

Danh hiệu di sản thế giới và “cuộc chơi” toàn cầu

 Mùa lễ hội xuân 2026 là năm đầu tiên sau khi Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa thế giới. Việc được UNESCO ghi danh không chỉ là sự khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh đặc sắc của Yên Tử, mà còn mở ra một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về quản trị, bảo tồn và hội nhập. Trong bối cảnh đó, bài toán đặt ra không chỉ là gìn giữ di sản, mà còn là cách tổ chức, vận hành và phát huy giá trị một “di sản sống” theo chuẩn mực quốc tế, gắn với sinh kế cộng đồng và phát triển bền vững. Xung quanh vấn đề này, ông Mai Vũ Tuấn, Trưởng ban quản lý Di sản thế giới Vịnh Hạ Long - Yên Tử đã có những chia sẻ với phóng viên Báo Quân đội nhân dân.

Phóng viên (PV): Sau khi được UNESCO công nhận là Di sản thế giới, Yên Tử đã có những chuyển biến nổi bật gì trong công tác tổ chức và quản lý?

Ông Mai Vũ Tuấn: Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc vừa được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới gồm có 12 cụm, điểm di tích trải rộng trên địa phận 3 tỉnh, thành phố là Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hải Phòng. Trong đó, ở Quảng Ninh có 5 cụm, điểm di tích là Thái Miếu, chùa Lân, cụm di tích chùa Hoa Yên, am - chùa Ngọa Vân và bãi cọc Yên Giang.

Danh hiệu di sản thế giới và “cuộc chơi” toàn cầu

Ông Mai Vũ Tuấn, Trưởng ban quản lý Di sản thế giới Vịnh Hạ Long - Yên Tử. 

Quảng Ninh xác định năm 2026 là năm du lịch Yên Tử, cho nên năm nay các hoạt động so với các năm trước đều được tổ chức quy mô lớn hơn. Bên cạnh đó, sau khi trở thành di sản thế giới, các khu di tích có sự tham gia tích cực hơn của cộng đồng và nhận được sự chỉ đạo rất sâu sát của chính quyền. Quảng Ninh miễn phí thắng cảnh trong 3 năm cho du khách đến các di tích, Công ty Cổ phần Phát triển Tùng Lâm miễn phí trông giữ xe...

Vì thế, sau khi trở thành di sản thế giới, các tín hiệu đầu năm rất đáng mừng. Du khách đổ về Yên Tử rất đông, có những ngày hơn 200%, cao điểm như ngày mồng 5 Tết, riêng Khu di tích danh thắng Yên Tử đã đón 45.000 người. Đây gần như một kỷ lục về đón du khách trong thời điểm một ngày của Khu di tích Yên Tử. Tất cả các điểm đến khác đều có lượng khách tăng từ khoảng 70% đến hơn 100% so với các điểm du khách đến các điểm nằm trong quần thể di tích Yên Tử.

PV: Việc quản trị tại các khu di tích có khác gì khi trở thành di sản thế giới không, thưa ông?

Ông Mai Vũ Tuấn: Trước khi được UNESCO công nhận là di sản, các di tích này đều nằm trong khu di tích quốc gia đặc biệt, công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di tích đều phải thực hiện theo chuẩn của di tích quốc gia đặc biệt. Khi trở thành di sản thế giới, đây là niềm vinh dự tự hào nhưng cũng đồng nghĩa rằng, chúng ta đang tham gia vào “cuộc chơi” lớn hơn, nghĩa là cần có tầm nhìn quốc tế, tư duy quản lý quốc tế. Việc khai thác, phát huy di sản không chỉ trong phạm vi quốc gia mà là vấn đề của toàn cầu.

Thiền phái Trúc Lâm là dòng tôn giáo rất riêng của Việt Nam, có nhiều giáo lý phù hợp với thực tế cuộc sống và có số lượng phật tử khá đông; cho nên chúng tôi tham vọng khu di tích nói chung, Yên Tử nói riêng, không chỉ dừng là tuyến hành hương trong nước mà cần trở thành tuyến hành hương của các phật tử trên toàn thế giới.

Danh hiệu di sản thế giới và “cuộc chơi” toàn cầu
 Khu di tích Ngọa Vân nằm trong Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc. 

Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang giao cho Ban Quản lý di sản thế giới Hạ Long - Yên Tử làm nhiều đề án, đặc biệt có đề án bảo tồn và phát huy giá trị các di sản thế giới của tỉnh Quảng Ninh. Trong đó đặt ra nhiều nội dung, từ quy hoạch đến kế hoạch phát triển, đầu tư, tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị di tích bằng nhiều kênh. Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ tập trung vào củng cố, xây dựng, bảo tồn các cơ sở vật chất tôn giáo. Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, viễn thông, công nghệ thông tin... Doanh nghiệp cũng sẽ được tạo hành lang để đầu tư vào các dịch vụ trên cơ sở các giá trị mà UNESCO đã công nhận.

PV: Về vấn đề bảo vệ môi trường, áp dụng công nghệ số được thực hiện như thế nào, thưa ông?

Ông Mai Vũ Tuấn: Trước khi trở thành di sản thế giới, vấn đề môi trường đã luôn được đặt ra với yêu cầu nghiêm ngặt. Tuy nhiên, khi trở thành di sản thế giới, ở tầm nhìn toàn cầu, đòi hỏi giữ gìn cảnh quan môi trường được nâng lên thêm một bậc. Nghĩa là không chỉ bảo vệ mà còn cần được cải thiện. Chúng ta phải tiếp cận được công nghệ của thế giới về vấn đề môi trường. Trước đây có thể là chúng ta còn chưa mạnh dạn, nhưng khi tham gia cuộc chơi lớn thì chúng ta cũng cần tiến tới những tiêu chuẩn cao hơn, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật về bảo vệ môi trường.

Về cơ bản, hiện nay việc giám sát người ra, vào Yên Tử được thực hiện bằng công nghệ camera trí tuệ nhân tạo. Sau lễ hội, chúng tôi sẽ thực hiện kiểm soát người ra, vào bằng căn cước công dân. Việc xác định danh tính du khách rất quan trọng, bởi chúng tôi còn phải mua phí bảo hiểm cho du khách.

PV: Ông đánh giá như thế nào về vai trò của cộng đồng địa phương với việc bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản?

Ông Mai Vũ Tuấn: Di sản của chúng ta là di sản sống, trong đó, bên cạnh yếu tố vật thể còn có cả các yếu tố phi vật thể, được người dân trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vì thế di sản phải được bảo tồn, nhưng không phải như “cất trong lồng kính” mà bảo tồn mà vẫn phát triển được. Vì thế, vai trò của người dân trong vùng di sản rất quan trọng. Chính quyền địa phương do đó cũng hướng tới việc bảo đảm sinh kế cho người dân bên cạnh việc tìm tòi, tra cứu dữ liệu lịch sử để làm dày giá trị di sản văn hóa. Đây là cuộc chơi làm thay đổi sinh kế, lề lối làm việc. Người dân có thể cung cấp dịch vụ, nông sản cho du khách, tham gia vào chuỗi thương mại, tạo ra những sản phẩm mới, làm homestay, giới thiệu văn hóa cộng đồng...

PVTrân trọng cảm ơn ông!

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...