Chuyển đến nội dung chính

Hồ sơ phở trình UNESCO gặp khó vì địa phương tự định vị

 

Việc một làng nghề tự nhận là "cái nôi của nghề phở" có thể khiến hồ sơ phở trình UNESCO khó cán đích.

Làng tự nhận "cái nôi của nghề phở"

Kể từ 2024, làng Vân Cù (xã Nam Đồng, tỉnh Ninh Bình) đã nhiều lần nhận mình là "cái nôi của nghề phở". Danh tính này được căng lên ở nhiều lễ hội của làng, trên vé trải nghiệm nghề phở, cũng như trong cuộc thi tìm hiểu nghề phở. Năm nay, làng Vân Cù lại tiếp tục căng định vị "cái nôi của nghề phở" tại lễ hội phở Vân Cù với chủ đề "Về với đình làng Vân Cù - Mở trang di sản" (18 - 19.3), một hoạt động bên lề của Festival phở Ninh Bình 2026.

Với cách thể hiện "cái nôi của nghề phở", làng Vân Cù khiến nhiều người thắc mắc, liệu đây có phải là nơi sinh ra nghề phở trong cả nước? Bản thân hồ sơ di sản phi vật thể quốc gia Phở Nam Định tuy có nhắc đến Vân Cù nhưng hoàn toàn không có sự khẳng định về việc Nam Định hay Vân Cù là "cái nôi của nghề phở".

Hồ sơ phở trình UNESCO gặp khó vì địa phương tự định vị- Ảnh 1.

Phở hướng đến việc UNESCO ghi danh

ẢNH: NGUYỄN NGUYỄN

Ông Cồ Như Đồi, Chủ nhiệm Chi hội Phở Vân Cù, giải thích: "Cái nôi có nghĩa như là tôi bây giờ hơn 50 tuổi thì tôi là 5 đời (làm nghề phở) rồi". Khi được hỏi, bây giờ không có gì để khẳng định Vân Cù là nơi làm nghề phở đầu tiên cả, ông Cồ Như Đồi nói: "Cứ hỏi từ những năm 1950, 1951, 1952 thì biết rằng những người ông của tôi đi bán phở đã được Nha khoa cảnh sát Bắc Việt cấp bán phở vỉa hè ở Hà Nội. Tôi nói ở đây là có bằng chứng. Không việc gì phải thắc mắc. Cái nôi của làng tôi thì tôi phải giữ cái nôi của làng. Cha ông tôi để lại, cụ tôi để lại thì tôi phải giữ, chứ lại giữ cho hàng xóm à. Đây là giữ lại cái nôi các cụ để lại".

Advertisements

Bà Lê Thị Thiết, Chủ tịch Hội Văn hóa ẩm thực Ninh Bình, cho biết làng Vân Cù có số lượng tham gia hội ẩm thực rất đông, cũng có số thành viên làm nghề phở đông nhất. "Hiện nay có mấy trăm người họ Cồ của làng Vân Cù là thành viên chi hội phở đang hoạt động ở hội, cũng như tham gia quảng bá làng Vân Cù", bà Thiết nói. Bà cũng đánh giá cao làng Vân Cù ở việc làng có những ngày hội con em đi làm nghề phở các nơi về quy tụ phục vụ bà con, giới thiệu với du khách về nghề phở nơi mình sinh ra và lớn lên. Ở đó cũng có các cụ đã 4 - 5 đời được trao truyền, như cụ Cồ Chiêu đang ở Hàng Đồng (Hà Nội) đã đến đời thứ tư, cụ Cồ Tuấn năm 1951 - 1952 đã bán phở ở Hà Nội và cụ có chứng nhận nộp thuế.

Hồ sơ phở trình UNESCO gặp khó vì địa phương tự định vị- Ảnh 2.

Slogan "Cái nôi của nghề phở" trong hội làng Vân Cù

ẢNH: TL NAM ĐỊNH ĐẤT VÀ NGƯỜI

Tuy nhiên, bà Thiết chia sẻ: "Cái nôi của nghề phở, thực ra chúng tôi chỉ nói là tôn vinh làng Vân Cù thôi, còn việc đó (dùng từ "cái nôi của nghề phở" - NV) ở làng họ thì họ tôn vinh làng họ".

Xích mích cộng đồng có thể ảnh hưởng hồ sơ UNESCO

Theo một nghiên cứu của Bảo tàng Nam Định để phục vụ việc viết hồ sơ di sản phi vật thể quốc gia Phở Nam Định, làng Vân Cù chỉ là một trong nhiều làng ở Nam Định (nay là Ninh Bình) có nghề nấu phở. Nghiên cứu này cho biết: "Xã Đồng Sơn, xã Nam Thái huyện Nam Trực có số người đi bán phở nhiều nhất. Xã Đồng Sơn có 590 người bán phở. Trong đó: thôn Vân Cù: 82 người bán phở; thôn Giao Cù: 168 người bán phở; thôn Tây Lạc: 340 người bán phở". Có nghĩa là bên cạnh làng nghề phở Vân Cù còn có ít nhất 2 làng nghề phở khác cũng của Nam Định (nay là Ninh Bình). Bên cạnh đó, số lượng thống kê cho thấy người làm nghề bán phở ở Vân Cù cũng không "áp đảo" hai làng nghề còn lại.

Hồ sơ phở trình UNESCO gặp khó vì địa phương tự định vị- Ảnh 3.

Vé hội làng cũng ghi rõ "Cái nôi của nghề phở"

ẢNH: TL NAM ĐỊNH ĐẤT VÀ NGƯỜI

Hiện Hà Nội là địa phương được chọn để "cầm cái" nghiên cứu, viết hồ sơ di sản phi vật thể liên quan đến phở trình UNESCO. Bà Phạm Lan Anh, Trưởng phòng Quản lý di sản Sở VH-TT Hà Nội, cho biết hiện tại Sở đang liên hệ với các cộng đồng để cùng đồng thuận viết hồ sơ phở. "Có nhiều cộng đồng thực hành phở trong cả nước. Ngoài Hà Nội, Nam Định còn có nhiều địa phương khác, chẳng hạn hiện nay chúng tôi đang liên hệ Lạng Sơn, Cao Bằng", bà Lan Anh nói. Cũng phải nói thêm, cùng là thực hành phở, song món phở vịt hoặc phở chua ở Lạng Sơn, Cao Bằng có cách chế biến khác nhiều với phở Nam Định, phở Vân Cù.

Về slogan "cái nôi của nghề phở", PGS-TS Lê Thị Thu Hiền, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ VH-TT-DL), từng phân tích Công ước 2003 của UNESCO về di sản văn hóa phi vật thể có đưa ra các nguyên tắc đạo đức trong thực hành di sản văn hóa. "Đấy là phải đảm bảo nguyên tắc tôn trọng các cộng đồng chủ thể và không tạo ra xung đột cũng như cạnh tranh trong các thực hành", bà Hiền nói.

Một chuyên gia văn hóa phi vật thể cho biết, với UNESCO, việc đồng thuận trong các cộng đồng thực hành di sản vô cùng quan trọng. Sự thiếu đồng thuận, rạn nứt cộng đồng có thể khiến hồ sơ không được công nhận, thậm chí đã ghi danh rồi vẫn có thể bị loại khỏi danh sách. "Nếu việc một địa phương cứ khăng khăng mình là cái nôi của nghề phở có thể ảnh hưởng đến việc kết nối cộng đồng thực hành di sản", chuyên gia cho biết.

Hồ sơ UNESCO liên quan đến phở hiện đang được cân nhắc hướng viết. Tuy nhiên, mong muốn của các chuyên gia cũng như cộng đồng là di sản này sẽ được ghi danh giống như văn hóa muối kim chi của Hàn Quốc - được UNESCO ghi danh vào năm 2013. Điều này cũng rất phù hợp với Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa VN. Theo đó, chúng ta cần đẩy mạnh sức mạnh của vốn văn hóa, của di sản, và tạo ra các thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế. Chính vì thế, việc địa phương tự định vị cho mình, đưa ra các slogan kiểu "cái nôi của nghề phở" cần được xem lại, để tránh cản đường việc vinh danh phở Việt. 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...