Chuyển đến nội dung chính

Hồ sơ phở UNESCO - tìm định vị khác cho Vân Cù

 Làng Vân Cù hoàn toàn có thể có những định vị thương hiệu văn hóa khác với "cái nôi của nghề phở". Điều đó sẽ mở đường cho hồ sơ phở gửi UNESCO.

"Cái nôi của nghề phở" là cách nói quảng bá

Ông Vũ Ngọc Vượng, Phó chủ tịch Chi hội Phở Vân Cù, cho biết mình luôn ủng hộ việc làm hồ sơ phở Việt để UNESCO ghi danh, và không muốn thay đổi slogan "Cái nôi của nghề phở" mà làng ông đã đưa ra nhiều năm nay. Cũng phải nói thêm, ở Nam Định trước đây (nay là tỉnh Ninh Bình), trên cổng thông tin của H.Nam Trực, còn đưa cả định vị "Làng Vân Cù, Giao Cù - cái nôi nghề phở của cả nước".

Hồ sơ phở UNESCO - tìm định vị khác cho Vân Cù- Ảnh 1.

Giới thiệu phở ở hội làng Vân Cù

ẢNH: TRINH NGUYỄN

Trong khi đó, chuyên gia truyền thông Lê Quốc Vinh cho rằng quảng bá "cái nôi của nghề phở" là cách truyền thông "ngộ nhận" và không nên làm.

Ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó giám đốc Sở VH-TT Ninh Bình, cho biết Vân Cù là một trong những làng thực hành nghề làm phở lâu đời, có đóng góp quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nghề phở. Đây cũng là cộng đồng có đóng góp quan trọng cho nghề phở ở tỉnh Nam Định trước đây và cả nước nói chung, có sức lan tỏa mạnh mẽ, làm nên thương hiệu lâu đời. Ông Cường cũng nhìn nhận thêm: "Slogan "cái nôi của nghề phở" mà làng Vân Cù đưa ra mang tính quảng bá, không phải là kết luận khoa học chính thức khẳng định đây là cái nôi duy nhất của nghề phở".

Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, Sở VH-TT Ninh Bình luôn tôn trọng giá trị truyền thống và nỗ lực gìn giữ, trao truyền, tôn vinh di sản văn hóa của các địa phương, các cộng đồng dân cư và chủ nhân di sản văn hóa. Dù vậy, Sở khẳng định: "Việc xác định "cái nôi của nghề phở" là vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau trong giới nghiên cứu và cộng đồng thực hành, và cần tôn trọng tính đa dạng trong các biểu đạt dân gian của di sản văn hóa phi vật thể theo tinh thần Công ước của UNESCO".

Không bảo vệ "sở hữu duy nhất" với phở

PGS-TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa - Giáo dục của Quốc hội, phân tích phở được bồi đắp qua di cư, qua nghề nghiệp, qua phố thị, qua thị hiếu, qua nguyên liệu địa phương và qua ký ức cộng đồng. Vì thế, Vân Cù hoàn toàn có thể, và nên, khẳng định vị trí rất quan trọng của mình trong lịch sử nghề phở, nhưng bằng ngôn ngữ bao trùm hơn, khoa học hơn, hợp với tinh thần UNESCO hơn.

"Thay vì nói "cái nôi của nghề phở" theo nghĩa dễ bị hiểu là độc tôn, có thể nói Vân Cù là "một trong những cộng đồng tiêu biểu, lâu đời và có đóng góp quan trọng cho nghề phở VN", hoặc "một trung tâm thực hành nghề phở giàu truyền thống". Cách nói ấy không làm giảm niềm tự hào của làng, mà còn nâng tầm thành một phần của niềm tự hào chung về phở Việt", PGS-TS Bùi Hoài Sơn nói.

Sự thay đổi này sẽ giúp mang lại sự đồng thuận cộng đồng - nền tảng quan trọng của một hồ sơ UNESCO. "Phở Việt đủ lớn để có nhiều quê nghề, nhiều dòng thực hành, nhiều ký ức khởi nguồn. Và cũng chính vì thế, điều chúng ta cần bảo vệ không phải là quyền "sở hữu duy nhất" đối với phở, mà là quyền cùng nhau kể một câu chuyện lớn hơn, sâu hơn, đẹp hơn về phở như di sản sống của người Việt", ông Sơn nói.

Sở VH-TT Ninh Bình cho biết thời gian tới sẽ khuyến khích các hoạt động nghiên cứu, trao đổi học thuật nhằm làm rõ hơn lịch sử nghề phở, trên tinh thần tôn trọng sự đa dạng và di sản ẩm thực VN. Sở cũng sẽ trao đổi, làm việc với Ban tổ chức và chính quyền địa phương, cộng đồng thực hành nghề phở làng Vân Cù nói riêng và trên địa bàn tỉnh nói chung để đảm bảo thông tin truyền thông phù hợp trong các hoạt động tiếp theo. Đồng thời, tỉnh Ninh Bình cũng tích cực phối hợp với Hà Nội và các địa phương xây dựng, thúc đẩy hồ sơ tri thức dân gian Phở đề nghị UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...