Chuyển đến nội dung chính

Huy động 6.000 nhân công nạo vét hàng nghìn khối đất đá, tạo nên dòng sông bán nhân tạo cổ xưa bậc nhất Việt Nam, chảy trong lòng Di sản thế giới kỳ vĩ được UNESCO công nhận

 Đây là dòng sông chảy trong lòng Kinh thành Huế, được biết đến là dòng sông bán nhân tạo cổ xưa bậc nhất Việt Nam.

Vào ngày 10/4 tới đây, tuyến giao thông thủy nội địa trên sông Ngự Hà (TP. Huế) chính thức được đưa vào khai thác du lịch.

Đây là thông tin nhận được nhiều sự quan tâm của người dân và du khách. Bởi nó không chỉ là sự kiện đánh dấu việc mở ra hướng phát triển mới cho du lịch Huế mà còn góp phần “đánh thức” một dòng sông mang đậm dấu ấn lịch sử, từng giữ vai trò đặc biệt dưới triều Nguyễn.

screenshot---2026-04-07t152950.104_1775550608.png
Dòng sông Ngự Hà (Ảnh: Internet)

Theo một thống kê mới đây, Việt Nam có khoảng 3.450 con sông, trong đó không ít dòng sông là bán nhân tạo và Ngự Hà là một trong những dòng sông bán nhân tạo cổ xưa. Được biết, đây cũng là dòng sông bán nhân tạo cổ xưa và duy nhất chảy trong lòng Kinh thành Huế - một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới.

Theo tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, đây vốn là nhánh của sông Kim Long cũ, được triều đình nhà Nguyễn cải tạo, uốn nắn để phục vụ mục đích quy hoạch đô thị và vận chuyển.

Tài liệu có ghi, Ngự Hà được hình thành vào hai thời điểm khác nhau và ghi dấu ấn của hai vị vua nổi tiếng đầu triều Nguyễn. Cụ thể, phần phía Đông là vào thời Gia Long (1802-1819) còn phần phía Tây là vào thời Minh Mạng (1820-1840).

Hai phần phía Đông và phía Tây của sông Ngự Hà đã được hình thành cách nhau 20 năm (1805-1825). Chiều dài của Ngự Hà là 3.388m, tính từ điểm tiếp giáp với sông Đông Ba đến điểm tiếp giáp với sông Kẻ Vạn. Bề rộng giữa hai bờ kè ở các đoạn sông không đồng đều. Ở Đông Thành Thủy Quan (cống Lương Y), sông rộng đến 67m nhưng càng về phía Tây, dòng sông càng hẹp. Đến Tây Thành Thủy Quan, kích thước ấy chỉ còn lại khoảng 2/3.

Ngày xưa mực nước ở Ngự Hà sâu trung bình 1m50. Bấy giờ, hai bờ của con sông đã được kè bằng đá núi (sơn thạch), dày khoảng 1m50 để giữ cho đất khỏi sạt lở. Như vậy, nửa phía Đông của sông Ngự Hà vốn là một nhánh của sông Kim Long cũ. Khi quy hoạch và xây dựng Kinh thành, vua Gia Long đã cho san lấp một số đoạn của con sông ấy để xây dựng thành lũy lên trên đó, đồng thời cho đào lấp và uốn nắn một số đoạn để tạo ra con sông có dạng gấp khúc như hình thước thợ.

Đoạn gấp khúc bắt đầu khoảng đường Phùng Hưng ngày nay, sau đó chảy lên phía Bắc, qua phía Đông, lại chảy về phía Nam, rồi qua phía Đông một lần nữa, ra ngoài Kinh thành để lưu thông với Hộ Thành Hà và sông Hương.

screenshot---2026-04-07t152940.206_1775550607.png
Một đoạn của sông Ngự Hà (Ảnh: Internet)

Sở dĩ người đương thời phải tạo ra đoạn đường thủy này là vì khu vực nằm ở phía Bắc và phía Tây hồ Tịnh Tâm bây giờ là Kinh thương (Kinh thương京倉 nghĩa là kho thóc của Kinh đô), nơi triều đình thiết lập nhiều nhà kho lớn để chứa đựng và lưu trữ những loại lương thực, vật liệu cần thiết cho triều đình, chẳng hạn như kho lúa gạo, kho muối, kho tiền, kho kim loại...

Mọi ghe thuyền chở các loại vật liệu từ các địa phương trong nước về Kinh đô Huế đều vào cửa biển Thuận An, ngược dòng sông Hương hoặc sông Phổ Lợi vào Ngự Hà và nhập hàng ở những kho bên phía bờ Nam của sông này. Cũng chính vì vậy mà xưa nay ở đây có địa danh xóm Cầu Kho, chợ Cầu Kho…

Đại Nam thực lục ghi chép rất rõ về việc đào sông này, dưới triều Minh Mạng trong 2 năm 1825 và 1826 để hoàn chỉnh hệ thống Ngự Hà, triều đình đã huy động 6.000 người làm việc, vét hàng nghìn khối bùn đất. Nếu gặp mộ cổ, gò táng mà có hài cốt thì cấp cho tiền vải đem chôn chỗ khác. Đồng thời, triều đình cũng cho xây cửa cống ở phía sau Hoàng thành. Đoạn khơi vét dài 291 trượng 5 thước.

Trên sông Ngự Hà có xây 3 cây cầu đá bắc qua: Một là từ đường cái tại cửa Đông Nam đến cửa Chính Bắc gọi là cầu Ngự Hà; hai là từ phía Bắc Hoàng thành đến phía tả cung Khánh Ninh gọi là cầu Khánh Ninh; ba là từ đường cái cửa Chính Nam đến cửa Tây Bắc gọi là cầu Vĩnh Lợi.

Hai cây cầu gỗ bắc qua: Một cầu từ phía trước cửa Kinh Thương đến phía Nam Tịch Điền gọi là cầu Bác Tế; Một cầu từ đường phía hữu Hoàng thành đến phía tả cung Bảo Định gọi là Bình Kiều. Những cây cầu này sau này đều được làm bằng đá và dựng nhà lợp mái ngói ở trên.

Hệ thống nước của sông Ngự Hà được thông thủy bằng 2 cửa cống Đông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan. Ở dưới hai cửa cống này đều có áp quan (cửa có tấm ván sập xuống nâng lên để khi cần cho ghe thuyền đi qua thì nâng lên, cũng như dùng để đóng mở thoát nước chống ngập úng bên trong kinh thành); phía trên xây cầu đá có lan can và đặt đại bác phòng thủ vào thời Minh Mạng.

Phía đầu hai cửa nước sông Ngự Hà khá hẹp nên sau mỗi trận lụt thường bị bồi lắng, hàng năm đều được nạo vét để thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa vào Kinh thương và đi lại của tàu thuyền.

screenshot---2026-04-07t153027.350_1775550632.png
Bản Tấu cuả Bộ Binh và Bộ Công về việc phái binh lính 2 tỉnh Nghệ An, Hải Dương nạo vét sông Ngự Hà (Ảnh: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I)

Trong kho Châu bản triều Nguyễn hiện lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I hiện nay còn nhiều Châu bản ghi chép về việc cho đào và nạo vét dòng sông quan trọng này. Quá trình làm việc nạo vét sông Ngự Hà, ngoài binh dân địa phương làm việc còn phái binh lính các tỉnh của các tỉnh ở Nghệ An, Hải Dương vào Kinh thao diễn sẽ ở lại cùng tham gia nạo vét sông.

Sông Ngự Hà gắn liền với sự phát triển thịnh suy của kinh thành Huế, là dòng sông quan trọng trong việc điều tiết lưu lượng nước ở bên trong kinh thành Huế. Với hình thù như một thước thợ, sông Ngự Hà cùng với sông Hương bao bọc bên ngoài tạo cho kinh thành Huế sự uyển chuyển mềm mại đầy chất thơ.

Trải qua thời gian, sông Ngự Hà không chỉ giữ vai trò điều tiết nước trong Kinh thành mà còn góp phần tạo nên cảnh quan đặc trưng, kết hợp cùng sông Hương bao bọc, mang lại vẻ mềm mại, hài hòa cho tổng thể kiến trúc Huế.

Mới đây, UBND TP. Huế đã ban hành Quyết định số 1015/QĐ-UBND, chính thức công bố mở luồng đường thủy nội địa trên sông Ngự Hà. Tuyến luồng có chiều dài khoảng 3,5km. Điểm khởi đầu phía hạ lưu cầu Thanh Long, tại ngã ba giao nhau giữa sông Đông Ba và sông Ngự Hà phường Phú Xuân. Điểm kết thúc phía thượng lưu cầu đường sắt Thủy Quan, tại ngã ba nơi giao nhau giữa sông Kẻ Vạn và sông Ngự Hà thuộc phường Phú Xuân. Thời gian bắt đầu thực hiện khai thác trên luồng đường thủy nội địa là từ ngày 10/4/2026.

Việc khai thác tuyến du lịch đường thủy trên sông Ngự Hà được kỳ vọng sẽ tạo thêm sản phẩm du lịch mới, góp phần đa dạng hóa trải nghiệm cho du khách khi đến Huế. Đồng thời, đây cũng là bước đi quan trọng trong việc kết hợp bảo tồn di sản với phát triển kinh tế, đưa những giá trị lịch sử - văn hóa vốn tồn tại hàng trăm năm trở lại đời sống đương đại một cách bền vững.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...