Chuyển đến nội dung chính

Làng nhận cái nôi nghề phở, UNESCO không tìm ‘giấy khai sinh độc quyền’

 Trong khi làng Vân Cù tiếp tục muốn làm "cái nôi của nghề phở", thì mong muốn này rất dễ đi chệch khỏi logic của UNESCO về di sản phi vật thể.

Vô lý "giấy khai sinh độc quyền"

Ông Vũ Ngọc Vượng, Phó chủ tịch chi hội phở Vân Cù (xã Nam Đồng, tỉnh Ninh Bình) vẫn tiếp tục muốn giữ định vị của làng mình là "cái nôi của nghề phở" chứ không phải chỉ là "một trong những cái nôi của nghề phở". Ông Vượng có trong tay bản lịch sử làng, lịch sử nghề phở của làng cũng như hình ảnh biên lai thuế khi bán phở từ thế kỷ trước. Văn bản của ông Vượng cũng kể chuyện cụ Cổ Việt Hùng từng được Công ty ăn uống Hà Nội phong danh hiệu thợ bậc 7/7, hay hồi 1930 cụ Cồ Hữu Vặng đã mở các lò bánh phở để anh em họ hàng người dân Vân Cù lên ở nhờ đi bán phở gánh.

Làng nhận cái nôi nghề phở, UNESCO không tìm ‘giấy khai sinh độc quyền’- Ảnh 1.

Bát phở Thìn ở Tokyo, Nhật Bản được "tính hộ khẩu" cho phở Hà Nội

ẢNH: HUỲNH LÊ KIM NGÂN

Tư liệu ông Vượng cung cấp cũng nói đến việc hồi đầu thế kỷ 20 Nhà máy dệt Nam Định đã biến Nam Định thành nơi đông người, nhiều người đến bán hàng trong đó có dân làng Vân Cù. Món phở cũng ra đời thời gian này. "Dần dần, nghề phở đã lan tỏa sang các thành phố lớn khác như: Hải Phòng, Hà Nội cho dù thời điểm đó việc giết mổ gia súc (trâu, bò) gặp nhiều khó khăn", tài liệu này cho biết. Ông Vượng thậm chí còn cho rằng hồ sơ di sản phi vật thể quốc gia Phở Nam Định đáng lẽ phải là Phở Vân Cù mới đúng.

Tuy nhiên, những chứng cứ ông Vượng đưa ra không đủ để khẳng định Vân Cù là nơi phở xuất hiện đầu tiên, hay làng ông là nơi sản sinh ra nghề phở đầu tiên trong cả nước. Nó không "khớp" với định vị "cái nôi của nghề phở" mà Vân Cù đưa ra. Bản thân hồ sơ quốc gia cũng không khẳng định Nam Định hay Vân Cù là "cái nôi của nghề phở".

PGS-TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng câu chuyện làng Vân Cù kiên quyết nhận mình là "cái nôi của nghề phở" cần được nhìn bằng cả sự trân trọng lẫn sự tỉnh táo. "Trân trọng, vì một cộng đồng còn tha thiết giữ nghề, còn tự hào về tổ nghề, về ký ức mưu sinh của cha ông, đó là điều rất đáng quý. Nhưng tỉnh táo, vì khi một thực hành văn hóa đang hướng tới hồ sơ UNESCO, thì điều quan trọng nhất không phải là ai nói to hơn để nhận phần gốc tích về mình, mà là làm sao chứng minh được sức sống của di sản trong sự đồng thuận, cùng chia sẻ và cùng gìn giữ của nhiều cộng đồng thực hành", ông Sơn nói.

Vi phạm tinh thần của UNESCO

Cũng theo PGS-TS Bùi Hoài Sơn, tinh thần của UNESCO về di sản văn hóa phi vật thể là yêu cầu việc xem xét di sản phải phù hợp với "sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng". Hồ sơ càng mạnh khi càng kết nối được các cộng đồng thực hành, chứ không phải khi một cộng đồng dựng lên một tuyên ngôn dễ gây tranh chấp với cộng đồng khác. Nói cách khác, UNESCO không đi tìm một "giấy khai sinh độc quyền" cho một món ăn dân gian, mà quan tâm xem thực hành ấy đang được những cộng đồng nào gìn giữ, truyền dạy và làm giàu thêm trong đời sống đương đại.

Làng nhận cái nôi nghề phở, UNESCO không tìm ‘giấy khai sinh độc quyền’- Ảnh 2.

Slogan "cái nôi của nghề phở" là một định vị gây tranh cãi

ẢNH: ĐẤT VÀ NGƯỜI NAM ĐỊNH

"Vì vậy, nếu biến hồ sơ phở thành cuộc chạy đua xác lập "quê cha đất tổ duy nhất", chúng ta rất dễ đi chệch khỏi logic của UNESCO", PGS-TS Sơn nói và cho biết thêm: "Trường hợp Kimjang (văn hóa muối kim chi) của Hàn Quốc thường được nhắc đến cũng không được UNESCO ghi danh như kim chi của một địa phương gốc, mà như một thực hành tập thể vượt qua khác biệt vùng miền, tầng lớp, trở thành một biểu hiện chung của đời sống văn hóa Hàn Quốc".

PGS-TS Lê Thị Thu Hiền, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ VH-TT-DL), cho biết việc quản lý, bảo tồn di sản cần có nguyên tắc đạo đức là tôn trọng cộng đồng chủ thể. Chính quyền địa phương phải quản lý sao cho bảo vệ di sản tốt hơn, giúp cộng đồng tuyên truyền quảng bá, lan tỏa giá trị, sức sống di sản. Với slogan "cái nôi của nghề phở", PGS-TS Hiền cho biết: "Chính quyền địa phương phải có tiếng nói, làm việc với hiệp hội (Hội phở Vân Cù - NV) để thực hiện đúng các quy định, tránh việc tạo ra các ganh đua, cái này tôi mới là nôi, anh không phải là nôi sẽ dẫn đến mâu thuẫn, ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến tranh chấp xung đột văn hóa. Nó sẽ dẫn đến sự phân biệt các cộng đồng, rồi xa hơn có thể làm xã hội nhìn nhận sai lệch về di sản".

PGS-TS Hiền cũng cảnh báo nếu địa phương không có biện pháp kịp thời, làm việc với hiệp hội để điều chỉnh thì có thể dẫn đến hành vi bị nghiêm cấm, làm sai lệch mất giá trị của di sản. Điều này sẽ cản trở việc triển khai Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa VN, trong đó chúng ta đặc biệt chú trọng công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa, lan tỏa giá trị văn hóa của mình để định vị thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế.

PGS-TS Hiền cho rằng hiện VN đang thông qua việc lập các hồ sơ để UNESCO ghi danh là một trong những điều mang tính đột phá, giải pháp hữu hiệu nhằm lan tỏa giá trị văn hóa. Đây cũng là cách nhiều quốc gia trên thế giới đã triển khai. Với phở - một trong các loại hình di sản Thủ tướng đã cho phép lập hồ sơ thời gian tới, chúng ta càng hết sức tránh những thông tin để dẫn đến việc UNESCO có khuyến nghị. "Nó cũng sẽ làm ảnh hưởng vai trò của VN, hiện nay đang là một trong 24 quốc gia thành viên của Ủy ban liên chính phủ công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Nếu để những việc không tôn trọng cộng đồng chủ thể có thể gây ra tạo ganh đua mâu thuẫn, xung đột văn hóa sẽ ảnh hưởng không tốt. Chính quyền địa phương cần làm việc với hiệp hội để bảo đảm tôn trọng cộng đồng chủ thể, cũng như là bản sắc văn hóa của họ", PGS-TS Hiền nói.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...