Chuyển đến nội dung chính

Thủ đô lấy học tập là động lực chính để thúc đẩy phát triển bền vững

 Việc Hà Nội chính thức gia nhập Mạng lưới Thành phố học tập toàn cầu của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) được xem là bước ngoặt quan trọng trong chiến lược phát triển giáo dục của Thủ đô. Trao đổi với phóng viên, đồng chí Nguyễn Quang Tuấn, Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hà Nội cho rằng, danh hiệu này không chỉ là sự ghi nhận quốc tế mà còn mở ra cơ hội để Hà Nội thúc đẩy học tập suốt đời, mở rộng tiếp cận tri thức và xây dựng một cộng đồng học tập rộng khắp.

Phóng viên (PV): Ý nghĩa lớn nhất của việc Hà Nội được UNESCO công nhận là “Thành phố học tập toàn cầu” đối với hệ thống giáo dục Thủ đô là gì, thưa đồng chí?

Đồng chí Nguyễn Quang Tuấn: Việc được UNESCO công nhận là thành viên mạng lưới “Thành phố học tập toàn cầu” mang lại nhiều giá trị đối với hệ thống giáo dục Thủ đô. Trong đó có 3 ý nghĩa lớn nhất chính là: Chuyển đổi từ "giáo dục truyền thống" sang "học tập suốt đời" cho mọi đối tượng; chuẩn hóa và quốc tế hóa chất lượng giáo dục bằng việc tiếp cận nguồn lực toàn cầu và thúc đẩy đổi mới sáng tạo; nâng tầm vị thế và thương hiệu giáo dục Thủ đô. 

Thủ đô lấy học tập là động lực chính để thúc đẩy phát triển bền vững
 Đồng chí Nguyễn Quang Tuấn.

Có thể nói, ý nghĩa lớn nhất không nằm ở tấm giấy chứng nhận của UNESCO mà là tạo ra một bước chuyển mình về tư duy: Coi học tập là động lực chính để phát triển bền vững, biến Hà Nội thành một "trường học lớn", nơi mỗi công dân Thủ đô là một người dân học tập suốt đời.

PV: Trong nhóm các tiêu chí để UNESCO công nhận một thành phố học tập toàn cầu phải triển khai thực hiện những chiến lược vững chắc nhằm giải quyết các thách thức của thành phố. Thách thức cụ thể với Hà Nội là gì, cách thức giải quyết được đề ra như thế nào?

Đồng chí Nguyễn Quang Tuấn: Để được UNESCO công nhận, Hà Nội không chỉ có những thế mạnh mà còn phải thẳng thắn đối diện với những "nút thắt" đặc thù của một siêu đô thị đang phát triển. Có 3 thách thức lớn nhất và các chiến lược giải quyết cụ thể mà Hà Nội đã và đang triển khai là: Thách thức về sự quá tải và khoảng cách tiếp cận giáo dục; về việc duy trì văn hóa học tập trong kỷ nguyên số và về việc bảo tồn giá trị truyền thống giữa dòng chảy hiện đại hóa và hội nhập.

Hà Nội có quy mô giáo dục lớn nhất cả nước (gần 3.000 trường học; hơn 2,3 triệu học sinh). Áp lực tăng dân số cơ học khiến một số trường trong khu vực nội thành quá tải trong khi ngoại thành lại gặp khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ và tài nguyên học tập chất lượng cao. Giải pháp được đưa ra là mô hình "Trường học hạnh phúc" nhằm giảm áp lực học tập cho học sinh, chú trọng sức khỏe tinh thần; tạo môi trường học tập an toàn, thân thiện và tôn trọng, phổ cập hạ tầng số bằng cách đầu tư mạnh vào mạng lưới internet và các điểm học tập trực tuyến tại những khu vực xa trung tâm để xóa nhòa khoảng cách địa lý giữa các khu vực.

Trong bối cảnh công nghệ số đang thay đổi chóng mặt, việc học không còn dừng lại ở bằng cấp mà còn ở khả năng tái đào tạo. Thách thức là làm sao để người lao động và người cao tuổi không bị bỏ lại phía sau. Chiến lược cốt lõi là thúc đẩy mô hình "Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập". Hà Nội sử dụng cấu trúc gia đình truyền thống để thúc đẩy việc học tập đa thế hệ (ông bà học kỹ năng số, bố mẹ học kỹ năng nghề nghiệp, con cái học tư duy sáng tạo...). Ngoài ra, Hà Nội cũng tổ chức các chiến dịch định kỳ để tạo thói quen tự học cho mọi lứa tuổi, biến việc học thành một phần của đời sống hằng ngày thay vì chỉ diễn ra trong trường học.

Là "Thành phố vì hòa bình" và "Thành phố sáng tạo", Hà Nội đồng thời phải giải quyết bài toán làm sao để việc giáo dục không chỉ là dạy kiến thức mới mà còn phải bảo tồn, giữ gìn được bản sắc văn hóa của Thủ đô. Vì thế, Hà Nội đưa nghệ thuật truyền thống (chèo, tuồng, múa rối...) vào trường học, biến di sản thành "học liệu sống" với dự án "Sân khấu học đường"; biến các di tích như Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long, các làng nghề truyền thống... thành những không gian học tập tương tác, giúp việc học lịch sử trở nên sống động và có tính thực hành cao.

PV: Với nhóm đối tượng yếu thế, vùng sâu, vùng xa trung tâm Thủ đô, Hà Nội có những chính sách gì riêng biệt, thưa đồng chí?

Đồng chí Nguyễn Quang Tuấn: Thực hiện phương phâm "không để ai bị bỏ lại phía sau", đối với nhóm yếu thế (người khuyết tật, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt) và khu vực vùng sâu, vùng xa (như các xã có người dân tộc miền núi: Ba Vì, Thạch Thất, Mỹ Đức...), Hà Nội cần những chính sách đặc thù, vượt trội.

Thủ đô lấy học tập là động lực chính để thúc đẩy phát triển bền vững

Biểu diễn nghệ thuật trong lễ đón nhận danh hiệu “Thành phố học tập toàn cầu” của Hà Nội. Ảnh: MỸ UYÊN

Có thể kể đến một số nhóm chính sách như chính sách hạ tầng và công nghệ để xóa bỏ khoảng cách địa lý; chính sách tài chính và khuyến khích để giảm rào cản kinh tế. Trong đó, chính sách sẽ tập trung vào việc mang tri thức đến tận cửa nhà bằng việc phủ sóng "Học tập số" miễn phí, triển khai thư viện thông minh lưu động... Ngoài ra, Hà Nội cũng nghiên cứu triển khai học bổng "Học tập suốt đời" dành cho người lao động nghèo, người khuyết tật muốn học nghề hoặc chuyển đổi kỹ năng để tự kế sinh nhai hoặc miễn phí cho người dân tại những xã đặc biệt khó khăn khi tham gia các lớp bồi dưỡng kỹ năng, xóa mù chữ chức năng...

PV: Một trong những điều được UNESCO ghi nhận, đánh giá cao ở Hà Nội là sự tham gia của cộng đồng học tập. Thành phố cần làm gì để nâng cao tính hiệu quả trong kết nối cộng đồng học tập với việc học trong các nhà trường?

Đồng chí Nguyễn Quang Tuấn: Việc UNESCO đánh giá cao Hà Nội ở sự tham gia của cộng đồng không phải ngẫu nhiên. Với 126 trung tâm học tập cộng đồng và hơn 4.000 nhà văn hóa, Hà Nội đang sở hữu một mạng lưới "vệ tinh tri thức" khổng lồ.

Để tăng tính hiệu quả trong việc kết nối giữa cộng đồng học tập và nhà trường, Hà Nội đang nghiên cứu triển khai mô hình "Trường học mở". Cách kết nối cộng đồng hiệu quả nhất là biến di sản thành lớp học. Học sinh được học lịch sử ngay tại đình làng hay di tích địa phương với sự hướng dẫn của các nghệ nhân, bô lão, già làng... Xây dựng "Mạng lưới chuyên gia cộng đồng" với việc nhà trường có thể chủ động mời các nghệ nhân tại địa phương đến chia sẻ về kỹ năng nghề nghiệp, giáo dục đạo đức hoặc kinh nghiệm sống cũng là một hướng đi đáng lưu ý. Hà Nội cũng tổ chức các chương trình nơi học sinh hướng dẫn người cao tuổi sử dụng công nghệ số và người cao tuổi truyền dạy văn hóa, lịch sử cho học sinh. Đây là mô hình UNESCO rất khuyến khích vì nó tạo ra sự gắn kết xã hội bền vững.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...