Chuyển đến nội dung chính

Tin tức Trưởng Đại diện UNESCO: Đầu tư vào con người và văn hóa là cốt lõi mang lại hạnh phúc cho người dân

 Tháng 6/2012, Liên hợp quốc đã tuyên bố chọn ngày 20/3 là Ngày Quốc tế Hạnh phúc, xuất phát từ nhận thức rằng hạnh phúc và sự an sinh của con người là mục tiêu quan trọng của sự phát triển. Không chỉ dừng lại ở tăng trưởng kinh tế, các quốc gia ngày càng chú trọng tới chất lượng cuộc sống, sự hài lòng và niềm vui của người dân.

Ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam trong một buổi trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN. Ảnh: Việt Đức - TTXVN

Năm 2026, việc hưởng ứng Ngày Quốc tế Hạnh phúc tiếp tục được triển khai rộng khắp tại Việt Nam với nhiều hoạt động thiết thực, giàu ý nghĩa. Nhân dịp này, Trưởng Đại diện Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) Jonathan Wallace Baker đã trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN.

Phóng viên: Nhân Ngày Quốc tế Hạnh phúc năm 2026, nhìn lại việc Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể trong chỉ số hạnh phúc, theo ông, sự cải thiện về mức độ hạnh phúc này nói lên điều gì về chất lượng phát triển?

Ông Jonathan Wallace Baker: Việt Nam đã được ghi nhận vì những tiến bộ đáng kinh ngạc trong việc nâng cao mức độ hạnh phúc của người dân. Tôi cho rằng điều này xuất phát từ việc Việt Nam không chỉ chú trọng vào sự phát triển của đất nước nói chung mà còn tập trung vào sự phát triển bền vững và toàn diện của con người. Các nhà lãnh đạo Việt Nam không nhìn nhận đất nước chỉ như một quốc gia đơn thuần, mà họ nhìn nhận thông qua chính những người dân và luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hỗ trợ người dân.

Tôi đã ở đây được hai năm và thường xuyên nghe các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo nói về tầm quan trọng của việc hỗ trợ người dân. Do đó, cốt lõi thành công của Việt Nam trong việc cải thiện chỉ số hạnh phúc những năm qua là sự đầu tư mạnh mẽ vào con người. Cụ thể, Việt Nam đã tăng cường đầu tư tài chính cho hệ thống giáo dục, hỗ trợ giáo viên và học sinh. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới coi trọng văn hóa như một phần quan trọng của sự phát triển.

Việc đầu tư vào văn hóa và bản sắc dân tộc đã thực sự mang lại hạnh phúc cho người dân. Đó là hai lĩnh vực tôi muốn nhấn mạnh, nhưng vẫn còn nhiều lĩnh vực khác nữa. Việt Nam thực sự là một câu chuyện thành công và tôi đã chứng kiến điều này trong suốt thời gian làm việc tại đây.

Dấu hiệu đáng khích lệ nhất mà chúng ta có thể thấy chính là sự đầu tư liên tục của Việt Nam vào văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều này được thể hiện rõ trong các định hướng chính sách lớn: từ Nghị quyết số 57-NQ/TW, đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí trung tâm của tăng trưởng, đến Nghị quyết số 80-NQ/TW, tiếp tục khẳng định văn hóa vừa là nền tảng, vừa là động lực của phát triển bền vững. Đồng thời, Nghị quyết số 71-NQ/TW về giáo dục và Nghị quyết số 72-NQ/TW về chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục mở rộng tầm nhìn này thông qua việc tăng cường năng lực con người bằng một nền giáo dục chất lượng, bao trùm hơn, cùng khả năng tiếp cận tốt hơn với dịch vụ chăm sóc sức khỏe và phúc lợi. Ví dụ, Việt Nam đang khởi công xây dựng các trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới, góp phần mở rộng cơ hội học tập cho trẻ em ở những khu vực còn nhiều khó khăn.

Xét trong tổng thể, các nghị quyết này cho thấy một cách tiếp cận nhất quán, tích hợp, kết hợp giữa chuyển đổi kinh tế với đầu tư vào phát triển con người, gắn kết xã hội và chất lượng cuộc sống. Sự đầu tư bền bỉ của Chính phủ vào các lĩnh vực này là một dấu hiệu thực sự khích lệ, cho thấy Việt Nam nhận thức rất rõ những khía cạnh cốt lõi nào cần được ưu tiên đầu tư để tiếp tục phát triển và vươn lên trong tương lai.

Phóng viên: Cùng với tinh thần lan tỏa niềm vui của Ngày Quốc tế Hạnh phúc 2026, ông đánh giá thế nào về sự phát triển và niềm tin của ông vào sự phát triển thịnh vượng của Việt Nam trong tương lai gần?

Ông Jonathan Wallace Baker: Việt Nam đang vững bước trên con đường hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao hơn vào năm 2045. Để duy trì tốc độ phát triển và đạt được tham vọng này trong những năm tới, điều then chốt là phải tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực trọng điểm như giáo dục, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và văn hóa. Việc Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng của các yếu tố này là khía cạnh rất quan trọng để đảm bảo đà phát triển.

UNESCO sẽ luôn đồng hành cùng Việt Nam và các thành phố để đảm bảo rằng sự phát triển này diễn ra một cách bền vững. Chúng tôi muốn đảm bảo rằng lợi ích từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được phân bổ công bằng, để mọi người dân, kể cả những người ở vùng sâu, vùng xa đều có cơ hội tiếp cận và hưởng lợi như nhau từ sự phát triển ngoạn mục mà Việt Nam đang trải qua.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông Jonathan Baker!

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...