Chuyển đến nội dung chính

Từ 'ông già lười' đến danh nhân được UNESCO vinh danh

 Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, một trong những đại danh y nổi tiếng nhất trong lịch sử y học Việt Nam. Ông được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới.

danh-y-tue-tinh-2.jpg
Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông.

"Ông già lười đất Hải Thượng", lười với danh lợi để tận hiến cho đời

Danh y Hải Thượng Lãn Ông tên thật là Lê Hữu Trác, sinh năm 1724 tại làng Liêu Xá, huyện Đường Hào (nay thuộc Yên Mỹ, Hưng Yên), trong một gia đình khoa bảng. Thuở nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, từng theo đuổi con đường học hành để thi cử, lập thân.

Lê Hữu Trác xuất thân từ một gia đình truyền thống khoa bảng, nhiều người học giỏi, đỗ cao, làm quan to dưới thời vua Lê chúa Trịnh. Cha của ông là Lê Hữu Mưu, đỗ đệ tam giáp tiến sĩ và làm quan dưới triều Lê Dụ Tôn tới bậc thượng thư. Mẹ ông là Bùi Thị Thường, quê ở xứ Bầu Thượng, xã Tĩnh Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Ông là con thứ bảy trong gia đình. Biệt hiệu Hải Thượng do hai chữ đầu tiên tỉnh (Hải Dương) và tên phủ (Thượng Hồng), nhưng cũng có thể do chữ Bầu Thượng là quê mẹ và đây là nơi ông ở lâu nhất (từ năm 26 tuổi đến khi mất).

Biến cố lớn của cuộc đời xảy ra khi ông theo anh vào miền Trung, rồi gia nhập quân đội chúa Trịnh trong bối cảnh đất nước còn chia cắt Đàng Trong – Đàng Ngoài. Tuy nhiên, sau nhiều trải nghiệm binh nghiệp và chứng kiến cảnh sinh tử, ông dần chán nản công danh. Cái chết của người anh ruột vì bệnh tật đã khiến Lê Hữu Trác chuyển hướng sang học y, quyết tâm tìm con đường cứu người thay vì chinh chiến.

Ông rời chốn quan trường, về quê mẹ ở Hương Sơn (Hà Tĩnh) ẩn cư, chuyên tâm nghiên cứu y thư, sưu tầm phương thuốc và trực tiếp chữa bệnh cho dân. Từ đây, ông lấy hiệu là “Hải Thượng Lãn Ông”, nghĩa là “ông già lười đất Hải Thượng”, thể hiện thái độ khiêm nhường, xa lánh, “lười” với danh lợi.

“Hải Thượng y tông tâm lĩnh”, Bộ bách khoa thư y học Việt Nam

Cống hiến lớn nhất của đại danh y Hải Thượng Lãn Ông là bộ sách đồ sộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh, gồm 66 quyển, được biên soạn trong nhiều năm, hoàn thành vào cuối thế kỷ XVIII. Đây được xem là công trình y học lớn nhất trong lịch sử y học cổ truyền Việt Nam.

Tác phẩm không chỉ hệ thống hóa lý luận Đông y (âm dương, ngũ hành, tạng phủ, kinh lạc…), mà còn đúc kết kinh nghiệm lâm sàng phong phú qua hàng chục năm chữa bệnh thực tế. Ông đề cập đến nhiều chuyên khoa: nội, ngoại, phụ, nhi, truyền nhiễm, cấp cứu, dưỡng sinh… đồng thời bàn sâu về y đức và phương pháp hành nghề.

Điểm đặc biệt của bộ sách là tinh thần chọn lọc và sáng tạo. Hải Thượng Lãn Ông tiếp thu tinh hoa y học Trung Hoa nhưng không rập khuôn máy móc. Ông gia giảm phương thuốc cho phù hợp khí hậu, thổ nhưỡng và thể trạng người Việt. Tinh thần độc lập, thực tiễn ấy giúp y học dân tộc thoát khỏi lệ thuộc hoàn toàn vào sách vở ngoại quốc.

Y đức, bản lĩnh của bậc đại danh y

Năm 2023, nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh, Hải Thượng Lãn Ông được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới. Sự kiện này không chỉ là dấu mốc mang ý nghĩa lịch sử, mà còn là sự ghi nhận quốc tế đối với tài năng y học kiệt xuất cùng những đóng góp to lớn, bền vững của ông cho nền y học cổ truyền Việt Nam và nhân loại. Đồng thời, đây cũng là sự khẳng định giá trị lâu dài của di sản tư tưởng, văn hóa mà ông để lại cho hậu thế.

Một trong những căn cứ quan trọng để UNESCO tôn vinh đại danh y Lê Hữu Trác chính là triết lý y đức sâu sắc được ông đúc kết trong các lời răn dạy dành cho người hành nghề y. Ông quan niệm y học là “nhân thuật” – nghệ thuật của lòng nhân ái, đặt sinh mệnh con người lên trên hết. Chính tư tưởng ấy đã làm nên tầm vóc không chỉ của một đại danh y, mà còn của một nhà văn hóa lớn, có ảnh hưởng vượt thời đại.

Nếu danh y Tuệ Tĩnh nổi tiếng với tuyên ngôn “Nam dược trị Nam nhân”, thì Hải Thượng Lãn Ông để lại dấu ấn sâu đậm với quan niệm về y đức. Trong phần “Y huấn cách ngôn”, ông khẳng định người thầy thuốc phải lấy lòng nhân ái làm gốc, coi sinh mạng con người là trên hết.

Ông viết đại ý rằng: làm thuốc là nhân thuật, không được mưu cầu lợi lộc; gặp người nghèo phải tận tâm cứu chữa; với bệnh nặng càng phải thận trọng; không được phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Những lời răn ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị, trở thành chuẩn mực đạo đức nghề y.

Suốt nhiều thập kỷ hành nghề tại vùng núi Hương Sơn, ông chữa bệnh cho dân nghèo không quản ngại đường sá hiểm trở. Nhiều giai thoại kể rằng ông sẵn sàng đi bộ hàng chục cây số, băng rừng vượt suối để cứu một bệnh nhân nguy kịch.

Năm 1782, chúa Trịnh Sâm triệu danh y Hải Thượng Lãn Ông ra Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Dù tuổi đã cao, ông vẫn lên đường, mang theo cả kinh nghiệm lẫn bản lĩnh của một danh y từng trải.

Sau thời gian thăm khám, ông thẳng thắn trình bày bệnh trạng và phương hướng điều trị, không vì áp lực quyền lực mà thay đổi chuyên môn. Chuyến đi này được ông ghi chép lại trong tác phẩm Thượng kinh ký sự, một tập ký đặc sắc, phản ánh sinh động đời sống phủ chúa cuối Lê – Trịnh, đồng thời cho thấy khí tiết và nhân cách của tác giả.

Hoàn thành sứ mệnh, ông xin trở về quê, tiếp tục cuộc sống ẩn dật và hành nghề cho đến khi qua đời năm 1791, thọ 67 tuổi.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...