Chuyển đến nội dung chính

UNESCO thúc đẩy giáo dục STEAM cho nữ sinh Việt Nam

 Giai đoạn 3 của dự án kéo dài 3 năm (2026-2029) nhằm tăng cường giáo dục STEAM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Nghệ thuật/Thiết kế và Toán học) gắn với bình đẳng giới tại Việt Nam, trao quyền cho trẻ em gái và học sinh dân tộc thiểu số trở thành lực lượng tiên phong trong nền kinh tế đổi mới sáng tạo.

Đại diện UNESCO và Tập đoàn CJ tri ân các đối tác tham gia giai đoạn 2 của Dự án "Chúng tôi có thể". (Ảnh: KIỀU GIANG)
Đại diện UNESCO và Tập đoàn CJ tri ân các đối tác tham gia giai đoạn 2 của Dự án "Chúng tôi có thể". (Ảnh: KIỀU GIANG)

Ngày 24/3, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, Trường đại học Sư phạm Hà Nội và Tập đoàn CJ đã công bố kết thúc thành công giai đoạn 2 của dự án “Chúng tôi có thể” và khởi động giai đoạn 3 nhằm thúc đẩy các cơ hội học tập bao trùm cho trẻ em gái tại Việt Nam. Sự kiện được tổ chức tại Trường đại học Sư phạm Hà Nội với sự tham gia của khoảng 1.000 đại biểu, bao gồm đại diện từ các cơ quan nhà nước, các đối tác, giáo viên và học sinh.

Trong giai đoạn 2023-2025, giai đoạn 2 của dự án đã tiếp cận hơn 8.000 học sinh và gia đình tại các tỉnh Cao Bằng, Vĩnh Long và Khánh Hòa; nâng cao năng lực cho hơn 650 giáo viên; và huy động 300 thủ lĩnh thanh niên thúc đẩy sự hòa nhập và bình đẳng giới tại trường học và cộng đồng. Sáng kiến cũng đã đóng góp vào đối thoại chính sách quốc gia về thu hẹp khoảng cách giới trong giáo dục.

ndo_tr_z7652972340547-191f1cb08092b5fe0ef3946d861f9f95-7692.jpg
Ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam chia sẻ với báo chí tại sự kiện. (Ảnh: KIỀU GIANG)

Trong bối cảnh nhu cầu về kỹ năng STEAM tại Việt Nam ngày càng gia tăng, trẻ em gái vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản trong việc tham gia, đặc biệt tại các cộng đồng dân tộc thiểu số. Phụ nữ hiện chỉ chiếm khoảng 37% lực lượng lao động trong các lĩnh vực STEM, cho thấy nhu cầu cấp thiết đối với các giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới.

Ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam khẳng định: “Thúc đẩy bình đẳng giới trong và thông qua giáo dục là một trong những ưu tiên cốt lõi của UNESCO. Khi các em gái có cơ hội thực chất để phát triển kỹ năng, sự tự tin và năng lực lãnh đạo cho tương lai, thông qua cả giáo dục STEAM, các em sẽ phát huy tiềm năng của mình và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng. Thông qua dự án ‘Chúng tôi có thể’, UNESCO vinh dự được đồng hành cùng Việt Nam trong việc xây dựng môi trường học tập nơi mọi học sinh đều có thể sáng tạo và dẫn dắt tương lai”.

Trong 3 năm tới, giai đoạn 3 Dự án với chủ đề “Chúng tôi có thể vì một tương lai kết nối: Từ học tập đến tiên phong thông qua giáo dục STEAM” sẽ hỗ trợ học sinh, đặc biệt là nữ sinh và người học từ các cộng đồng dân tộc thiểu số, phát triển tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề và sự tự tin để theo đuổi các con đường trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

ndo-tl-z7652972349017-a2fb8f9e9844f1b9c3dd46d4d0135284-9276.jpg
Ông Vũ Minh Đức, Cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam chia sẻ với báo chí tại sự kiện. (Ảnh: KIỀU GIANG)

Dự án sẽ tập trung vào 3 nhóm hoạt động chính: nâng cao năng lực cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; mở rộng các cơ hội học tập trải nghiệm cho học sinh; và thúc đẩy hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp, cộng đồng đổi mới sáng tạo và các nữ lãnh đạo trong lĩnh vực khoa học, công nghệ.

Tại sự kiện, ông Vũ Minh Đức, Cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam cho biết: “Giai đoạn 1 và 2 Dự án đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc nâng cao năng lực cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, thúc đẩy bình đẳng giới. Trong thời gian tới, chúng tôi mong muốn nội dung về giới, bình đẳng giới được giảng dạy chính thức tại các cơ sở đào tạo giáo viên để thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, bảo đảm chất lượng, hiệu quả”.

du-an-3024.jpg
Các đại biểu nhấn nút khởi động giai đoạn 3 Dự án "Chúng tôi có thể". (Ảnh: KIỀU GIANG)

Bà Heekyung Jo Min, Trưởng bộ phận Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, Tập đoàn CJ chia sẻ: “Bước vào Giai đoạn 3, CJ tiếp tục cam kết củng cố mối quan hệ hợp tác trong dự án này, mở rộng khả năng tiếp cận các cơ hội học tập chất lượng, đồng thời hỗ trợ nữ sinh và học sinh dân tộc thiểu số phát triển kỹ năng và sự tự tin để thành công, đặc biệt thông qua giáo dục STEAM”.

Dự kiến, khoảng 6.000 học sinh, trong đó có 3.000 nữ sinh, sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ dự án. Sáng kiến này đóng góp vào các ưu tiên của Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, thu hẹp khoảng cách giới trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, và chuẩn bị nguồn nhân lực tương lai cho nền kinh tế đổi mới sáng tạo, đồng thời khẳng định giáo dục chất lượng là chìa khóa để đạt được các Mục tiêu Phát triển bền vững.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...