Chuyển đến nội dung chính

UNESCO vinh danh tranh Đông Hồ, nhưng cả làng chỉ còn 3 gia đình giữ nghề

 Từng có 17 dòng họ cùng làm tranh, cả làng Đông Hồ (phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) rộn ràng tiếng in tranh mỗi dịp Tết. Nhưng sau nhiều biến động, ngôi làng tranh nổi tiếng một thời nay chỉ còn vỏn vẹn 3 gia đình với khoảng 30 người giữ nghề.


Khi tranh Đông Hồ được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào cuối năm 2025, niềm vui của các nghệ nhân xen lẫn nỗi lo: liệu dòng tranh dân gian trăm năm tuổi có thể hồi sinh ngay trên chính quê hương mình?

CLIP: Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế chia sẻ về quá trình làm sống lại làng nghề làm tranh dân gian Đông Hồ

Cả làng Đông Hồ chỉ còn 3 gia đình làm tranh

Đến nhà Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Oanh ở Tổ dân phố Đông Khê, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh vào một buổi chiều nắng đẹp, bà đang bận quết hồ lên tranh để dán vào mành, kịp mang ra phơi nắng nên không tiện ra đón khách. Vừa làm bà vừa cười: “Nghề làm tranh vất vả lắm, cứ phải luôn tay, luôn chân”.

Sinh ra và lớn lên ở làng tranh Đông Hồ, bà Oanh cho biết mình có cơ duyên đặc biệt với nghề truyền thống của quê hương. “Tôi rất may mắn vì được sinh ra ở vùng đất có nghề làm tranh Đông Hồ. Từ nhỏ đã mê nghề rồi. Khoảng 9–10 tuổi, nửa ngày đi học, nửa ngày ở nhà làm tranh và được mẹ dạy bảo, chỉ dẫn từng chút một” - bà kể.

“Nghề làm tranh vất vả lắm, cứ phải luôn tay, luôn chân” - Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Oanh tranh thủ phơi tranh trong nắng chiều. Ảnh: Khương Lực
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Oanh đã gìn giữ nghề làm tranh Đông Hồ nổi tiếng và sáng tác gần 60 chủ đề mới như: ‘Vinh quy bái tổ’, ‘Mã đáo thành công’, ‘Chị Hai quan họ’…, một số tác phẩm đã đạt giải tại các cuộc thi mỹ thuật và báo chí. Ảnh: Khương Lực

Do hoàn cảnh gia đình, bà phải nghỉ học sớm để theo nghề. Tuy vậy, tình yêu với tranh Đông Hồ ngày càng lớn. Không chỉ gìn giữ những mẫu tranh cổ của cha ông, bà còn sưu tầm, phục chế nhiều bản khắc cũ và sáng tác thêm các đề tài mới để dòng tranh dân gian này tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại.

Theo bà Oanh, trước đây nghề làm tranh Đông Hồ từng rất phát triển, có tới 17 dòng họ và hầu như gia đình nào trong làng cũng tham gia sản xuất. Đến nay, cả làng chỉ còn khoảng ba hộ gia đình vẫn kiên trì gắn bó với tranh Đông Hồ.

“Bây giờ chỉ còn hai dòng họ chính là Nguyễn Hữu và Nguyễn Đăng. Mỗi dòng họ còn một gia đình theo nghề. Nhà tôi dòng họ Nguyễn Hữu có chú em ra làm riêng nữa, nên hiện nay chỉ còn khoảng ba nhà vẫn làm tranh Đông Hồ" - bà Oanh nói.

Là một trong những nghệ nhân được mời sang Ấn Độ khi nghề làm tranh Đông Hồ được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, bà Oanh không giấu được xúc động: “Khi được đón nhận bằng ghi danh, gia đình tôi rất phấn khởi. Đó là niềm vinh dự lớn khi nghề truyền thống của cha ông được Nhà nước và thế giới quan tâm, công nhận”.

Theo bà, sau sự kiện này, tranh Đông Hồ nhận được nhiều sự chú ý hơn từ công chúng và truyền thông. “Nhiều cơ quan báo chí đến tìm hiểu, quảng bá hình ảnh tranh Đông Hồ. Tôi rất tự hào vì đã góp phần giữ gìn nghề truyền thống của cha ông, lại là một nghệ nhân nữ có cơ hội giới thiệu nghề đến bạn bè trong nước và quốc tế”.

Trao đổi với phóng viên Dân Việt, Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế cũng bày tỏ niềm vui khi tranh Đông Hồ được UNESCO ghi danh. Theo ông, trước đây nghề làm tranh ở làng Đông Hồ từng rất hưng thịnh, nhưng sau năm 1945 dần mai một khi nhiều gia đình chuyển sang làm nghề khác để mưu sinh.

Năm 1992, sau khi nghỉ hưu, ông quyết định trở về quê để khôi phục lại nghề tranh truyền thống. Trước đó, ông từng theo học Trường Trung cấp Mỹ nghệ Hà Nội (nay là Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội) từ năm 1958, tốt nghiệp trung cấp năm 1962 và được giữ lại giảng dạy tại trường. Quá trình học tập và nghiên cứu đã giúp ông hiểu sâu hơn về giá trị của tranh dân gian Việt Nam nói chung và tranh Đông Hồ nói riêng, từ đó dành nhiều tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy dòng tranh này.

ADVERTISEMENT
VN Content 2

Để bảo tồn và phát triển nghề làm tranh Đông Hồ, gia đình Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế đã thuê mảnh đất rộng 6.000m² để xây dựng Trung tâm bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ. Đây là nơi gia đình vừa sản xuất, vừa thu hút khách du lịch đến thăm quan, trải nghiệm và mua tranh về làm kỷ niệm.

Tranh Đông Hồ làm từ màu thiên nhiên

Tranh Đông Hồ còn được gọi là tranh Tết, vì cứ đến dịp cuối năm, các gia đình lại in tranh mang ra chợ bán để người dân mua về treo trong dịp năm mới. Đặc biệt, làng Đông Hồ xưa chỉ có 6 phiên chợ tranh trong tháng Chạp, diễn ra vào các ngày mùng 1, mùng 6, 11, 16, 21 và 26. Mỗi dịp đó, khách từ nhiều nơi lại tìm về mua tranh rất đông.

Theo Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế, ở Việt Nam có nhiều dòng tranh dân gian như Hàng Trống, Kim Hoàng (Hà Nội) hay tranh làng Sình (Huế). Nhưng tranh Đông Hồ khác biệt ở chỗ màu sắc hoàn toàn được tạo từ nguyên liệu thiên nhiên, tạo nên vẻ mộc mạc, bền màu và đậm bản sắc làng quê.

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế giới thiệu bộ tranh cổ, được xem như những tư liệu quý để giới thiệu với du khách trong và ngoài nước. Ảnh: Khương Lực

Nói về nét độc đáo của tranh Đông Hồ, nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Oanh nhấn mạnh hai đặc trưng nổi bật: “Thứ nhất, tất cả đều làm thủ công. Từ làm giấy, khắc ván, in tranh cho đến tô màu đều làm bằng tay. Bên cạnh đó, màu sắc trong tranh đều được tạo từ nguyên liệu tự nhiên. Màu nâu được làm từ sỏi núi, màu vàng nấu từ hoa hòe hoặc quả dành dành, màu xanh từ lá chàm hay các loại lá mềm, còn màu đen được đốt từ than lá tre".

Theo bà, nội dung tranh Đông Hồ phản ánh đời sống bình dị của người dân và gửi gắm những ước vọng tốt đẹp. Mỗi bức tranh đều mang một ý nghĩa riêng, nhưng đều là những lời cầu chúc may mắn, hạnh phúc. Chẳng hạn, bức “Dừa” tượng trưng cho sự trong sạch và hạnh phúc gia đình; bức “Đại cát” cầu mong may mắn; tranh “Gà đàn”, “Lợn đàn” thể hiện tình mẫu tử, sự sung túc. Hình ảnh này còn đi vào thơ ca, được nhà thơ Hoàng Cầm nhắc đến:

“Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp...”

Bà cho rằng, tuy nhìn giản dị nhưng mỗi bức tranh đều chứa đựng triết lý sâu sắc. “Ngày xưa nhà tranh vách đất, Tết đến các cụ thường dán tranh Đông Hồ lên tường để cầu chúc may mắn, bình an cho cả năm” - bà chia sẻ.

Hiện nay, dù số người theo nghề rất ít, các nghệ nhân vẫn cố gắng gìn giữ và phát triển dòng tranh dân gian độc đáo này. Bên cạnh việc phục chế những mẫu tranh cổ của cha ông, nhiều nghệ nhân còn chủ động sáng tác thêm các đề tài mới để phù hợp với đời sống hiện đại.

Trong quá trình làm nghề, nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Oanh cũng không ngừng sáng tạo để tranh Đông Hồ phù hợp với đời sống hiện đại. “Tôi đã sáng tác gần 60 chủ đề mới như ‘Vinh quy bái tổ’, ‘Mã đáo thành công’, ‘Chị Hai quan họ’…” - bà nói và cho biết trong đó một số tác phẩm đã đạt giải tại các cuộc thi mỹ thuật và báo chí.

Cùng với tranh dân gian Đông Hồ truyền thống, người làm tranh ở làng nghề còn phát triển thêm các bức tranh vẽ tay khổ lớn hoặc tranh gỗ để trưng bày. Ảnh: Khương Lực

Ông Nguyễn Ngọc Chiến - con rể nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế - người có hơn 30 năm gắn bó với nghề làm tranh Đông Hồ cho biết, tranh Đông Hồ ngày nay vẫn giữ nguyên tinh thần của tranh dân gian truyền thống. Chủ đề tranh vẫn theo các mẫu của các cụ ngày xưa, bởi nếu thay đổi quá nhiều thì sẽ không còn là tranh dân gian nữa.

Tuy vậy, để phù hợp với thị hiếu của người chơi tranh hiện nay, gia đình có sự điều chỉnh về hình thức thể hiện. “Chúng tôi phát triển thêm các bức tranh vẽ tay khổ lớn hoặc tranh gỗ để trưng bày, nhưng nội dung và tinh thần của tranh vẫn giữ theo truyền thống" - ông Chiến nói.

Nghệ nhân 90 tuổi vẫn in tranh mỗi ngày

CLIP: Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế chia sẻ thông tin mong chờ chế độ hỗ trợ cho người làm nghề sau khi tranh Đông Hồ được UNESCO vinh danh.

Sau nhiều năm nỗ lực khôi phục nghề, tranh Đông Hồ đã được Nhà nước công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Việc UNESCO vinh danh càng khiến những người làm nghề thêm tự hào, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về bảo tồn.

Trung tâm Bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ với kinh phí lên tới 91 tỉ đồng, thực hiện từ năm 2018-2020. Trung tâm đặt tại phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh với diện tích 19.282m2, gồm nhà truyền thống, nhà giới thiệu quy trình làm tranh, tu bổ nhà thờ, mở lại chợ tranh ngay tại Đình... Ảnh: Khương Lực

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế cho rằng, nếu đã xác định cần bảo vệ khẩn cấp thì cần có sự đầu tư cụ thể, đặc biệt là chính sách hỗ trợ cho những nghệ nhân đang trực tiếp làm nghề. Theo ông, chỉ khi có nguồn lực và điều kiện ổn định, nghề tranh Đông Hồ mới có thể phục hồi và phát triển bền vững.

Từ những năm 1990, ông Chế đã tự bỏ tiền sưu tầm, mua lại nhiều bản khắc cổ của làng Đông Hồ mà các gia đình khác không còn sử dụng. Hiện, ông lưu giữ hàng trăm bản khắc, trong đó có nhiều bản có tuổi đời hàng trăm năm và 17 bộ tranh cổ, được xem như những tư liệu quý để giới thiệu với du khách trong và ngoài nước.

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế đã tự bỏ tiền ra sưu tầm, lưu giữ hàng trăm bản khắc, trong đó có nhiều bản khắc có tuổi đời hàng trăm năm. Ảnh: Khương Lực

Dù đã 90 tuổi, Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế vẫn ngày ngày cùng con cháu in tranh, truyền lại từng kỹ thuật cho thế hệ sau. "Hôm trước vừa có đoàn khách 20 người Mỹ về nhà tôi, họ muốn tôi trực tiếp vẽ, in tranh để họ thưởng thức và mua về làm kỷ niệm" - ông nói và cho biết gia đình ông hiện có ba thế hệ cùng làm nghề, vừa sản xuất vừa đón khách đến tham quan, trải nghiệm.

Ông Nguyễn Ngọc Chiến – con rể Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế, người có hơn 30 năm gắn bó với tranh Đông Hồ – cho biết sau khi di sản được UNESCO ghi danh, gia đình nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn từ các cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên, để nghề phát triển lâu dài vẫn cần có thị trường ổn định và sự hỗ trợ từ Nhà nước.

Ông Nguyễn Ngọc Chiến – con rể Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế, người có hơn 30 năm gắn bó với tranh Đông Hồ – cho biết sau khi di sản được UNESCO ghi danh, gia đình nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn từ các cơ quan, đơn vị. Ảnh: Khương Lực

“Chúng tôi rất mong có thêm chính sách hỗ trợ và đầu ra cho sản phẩm. Khi nghề có thu nhập ổn định thì nhiều người, đặc biệt là lớp trẻ, mới có thể yên tâm gắn bó lâu dài” - ông Chiến chia sẻ.

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Oanh cũng cho rằng cần có chế độ đãi ngộ phù hợp đối với nghệ nhân. “Tôi làm nghề gần 60 năm, giờ gần 70 tuổi vẫn gắn bó với tranh. Điều mong mỏi nhất là có chính sách hỗ trợ để nghệ nhân yên tâm gìn giữ và truyền dạy nghề cho thế hệ sau” - bà nói.

Theo các nghệ nhân, hiện việc sản xuất và tiêu thụ tranh vẫn gặp nhiều khó khăn. Một bức tranh làm rất công phu nhưng giá bán không cao, trong khi thủ tục hóa đơn, thuế khi bán cho cơ quan, đơn vị cũng khiến người làm nghề gặp không ít trở ngại.

Giữa những căn nhà nhỏ ở làng Đông Hồ, tiếng lăn ván in vẫn đều đặn vang lên trên những tờ giấy điệp trắng. Dù chỉ còn vài gia đình bền bỉ giữ nghề, các nghệ nhân vẫn tin rằng chừng nào còn người yêu tranh dân gian, chừng đó màu sắc Đông Hồ vẫn chưa tắt trên quê hương mình.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...