Chuyển đến nội dung chính

Việt Nam khẳng định vị thế chủ động và tinh thần trách nhiệm

 Tại Kỳ họp lần thứ 43 của Đại hội đồng UNESCO (tháng 11/2025), sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững” do Việt Nam đề xuất đã được thông qua, với sự đồng bảo trợ của 71 quốc gia thành viên. 

Biểu diễn múa trống Chhay-dăm - một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc của người Khmer tại An Giang, một điểm nhấn thu hút khách du lịch tìm đến nơi đây. (Ảnh: PHONG ĐIỆP)
Biểu diễn múa trống Chhay-dăm - một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc của người Khmer tại An Giang, một điểm nhấn thu hút khách du lịch tìm đến nơi đây. (Ảnh: PHONG ĐIỆP)

Đây là lần đầu tiên sau gần bốn thập kỷ kể từ “Thập kỷ quốc tế về phát triển văn hóa 1988-1997”, một sáng kiến quy mô tương tự được khởi xướng trở lại trong khuôn khổ tổ chức này, mang dấu ấn và vai trò dẫn dắt của Việt Nam.

Theo lộ trình, Nghị quyết khuyến nghị Liên hợp quốc sớm phát động Thập kỷ quốc tế, dự kiến cho giai đoạn 2027-2036 sẽ được tiếp tục đệ trình lên Đại hội đồng Liên hợp quốc trong năm 2026 để xem xét, thông qua. UNESCO là cơ quan chủ trì triển khai, phối hợp cùng các tổ chức liên quan trong hệ thống Liên hợp quốc và các đối tác quốc tế.

Văn hóa trong cấu trúc phát triển toàn cầu

Nhiều năm qua, văn hóa ngày càng được nhắc đến như một yếu tố quan trọng của phát triển bền vững. Tuy nhiên theo các chuyên gia, trong Chương trình nghị sự 2030 với 17 Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc, văn hóa chưa trở thành một mục tiêu độc lập, mà chủ yếu được lồng ghép trong các mục tiêu về giáo dục, đô thị bền vững, tiêu dùng, sản xuất có trách nhiệm hoặc tăng trưởng kinh tế, tạo nên một “khoảng trống” nhất định về chính sách và cơ chế huy động nguồn lực dành riêng cho văn hóa. Trong bối cảnh ấy, sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững” do Việt Nam đề xuất đã mở ra một khuôn khổ mới, nơi văn hóa được xác lập ở vị trí trung tâm của phát triển bền vững, không chỉ như yếu tố hỗ trợ mà như một trụ cột độc lập, gắn kết hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường.

Cục trưởng Hợp tác quốc tế (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Nguyễn Phương Hòa chia sẻ, sáng kiến này kỳ vọng góp phần khắc phục khoảng trống trong cấu trúc phát triển toàn cầu hiện nay, tạo ra một khung cam kết chính trị và hợp tác quốc tế mới nhằm huy động nguồn lực tài chính, kỹ thuật và sự tham gia của các chủ thể xã hội cho lĩnh vực văn hóa. Quan trọng hơn, sáng kiến hướng tới việc tái định vị văn hóa như một nguồn lực nội sinh, có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, củng cố gắn kết xã hội và bảo đảm tính bền vững về môi trường. Điểm mới của sáng kiến không chỉ nằm ở quy mô “thập kỷ”, mà còn ở cách tiếp cận hệ thống: Văn hóa không bị tách rời khỏi phát triển, cũng không chỉ được nhìn nhận như một lĩnh vực bảo tồn, mà được đặt trong tổng thể các chính sách kinh tế-xã hội, gắn với công nghiệp sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, du lịch bền vững.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ngô Lê Văn khẳng định, đây là sáng kiến có quy mô lớn nhất do Việt Nam khởi xướng tại UNESCO trong nhiều năm qua. Thành công này cho thấy cùng với việc tham gia các cơ chế đa phương với tư cách thành viên tích cực, Việt Nam đã và đang từng bước chuyển sang vị thế chủ động, đề xuất ý tưởng, đóng góp giải pháp, cùng cộng đồng quốc tế định hình các chuẩn mực mới cho phát triển.

Tổng Giám đốc UNESCO Audrey Azoulay đánh giá cao sự chủ động của Việt Nam, cho rằng sáng kiến phù hợp với định hướng chiến lược của UNESCO trong việc nhấn mạnh vai trò của văn hóa đối với phát triển bền vững và hòa bình. Trợ lý Tổng Giám đốc UNESCO Ernesto R.Ottone nhận định, nếu được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua trong năm 2026, sáng kiến sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đưa văn hóa trở thành một nội dung gắn kết chặt chẽ hơn trong chương trình nghị sự phát triển toàn cầu giai đoạn sau năm 2030.

Nhất quán từ đường lối trong nước đến sáng kiến quốc tế

Thành công của sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững” là sự tiếp nối nhất quán đường lối của Đảng và Nhà nước ta về phát triển văn hóa. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị khẳng định: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho phát triển.

Những quan điểm đó đã và đang được cụ thể hóa trong thực tiễn. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030 đặt mục tiêu nâng cao tỷ trọng đóng góp của khu vực này trong nền kinh tế, xây dựng môi trường sáng tạo chuyên nghiệp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Theo báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, những năm gần đây, công nghiệp văn hóa Việt Nam đóng góp bình quân khoảng 6,5-7,5% GDP mỗi năm; nhiều lĩnh vực như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, thiết kế, trò chơi điện tử, quảng cáo và du lịch văn hóa có sự khởi sắc. Song song đó là các chương trình bảo tồn và phát huy di sản, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, phát triển con người Việt Nam toàn diện, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và gìn giữ bản sắc. Những di sản của Việt Nam được ghi danh trong danh sách của UNESCO không chỉ mang ý nghĩa tôn vinh giá trị truyền thống, mà còn tạo động lực cho phát triển du lịch bền vững, sinh kế cộng đồng và quảng bá hình ảnh quốc gia. Việt Nam hiện là thành viên tích cực của nhiều công ước quan trọng của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên, bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể và thúc đẩy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa. Từ chỗ tham gia và thụ hưởng, Việt Nam đã từng bước chuyển sang vai trò đề xuất sáng kiến, đóng góp ý tưởng và thúc đẩy hợp tác. Đó là biểu hiện sinh động của tư duy hội nhập chủ động, tự tin và có trách nhiệm.

Ông Jonathan Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam nhận định, trong các chiến lược quốc gia của Việt Nam, mối liên kết giữa văn hóa và phát triển đã được tích hợp rõ ràng và thực chất, từ việc gắn bảo tồn di sản với công nghiệp sáng tạo, du lịch bền vững đến phục hồi và phát triển nông thôn. Cách tiếp cận này phù hợp với các Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc và tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam có thể đóng vai trò tích cực trong việc chuyển hóa “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững” thành những hành động cụ thể ở quy mô toàn cầu.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội ghi nhận sáng kiến của Việt Nam là một bước củng cố nhận thức trong bối cảnh mới. Việc đóng góp ý tưởng mang tính toàn cầu là một thước đo quan trọng của vị thế quốc gia trong việc sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm và cùng kiến tạo tương lai chung. Ở góc độ rộng hơn, thúc đẩy văn hóa vì phát triển bền vững còn mở ra không gian đối thoại và hợp tác. Văn hóa có khả năng kết nối, giảm thiểu khác biệt, xây dựng lòng tin giữa các quốc gia trong bối cảnh thế giới phân hóa và cạnh tranh gia tăng. Khi Việt Nam đề xuất một sáng kiến mang tính bao trùm và nhân văn như vậy, đó cũng là thông điệp về một quốc gia yêu chuộng hòa bình, đề cao hợp tác và phát triển bền vững.

Nhiều chuyên gia cũng bày tỏ sự lạc quan rằng thành công của sáng kiến tại UNESCO là minh chứng cho vị thế ngày càng được nâng cao của Việt Nam trên trường quốc tế. Quan trọng hơn, đó là biểu hiện sinh động của tinh thần chủ động, trách nhiệm và khát vọng đóng góp vào tiến trình phát triển chung của nhân loại.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới

  VHO - Ngày 17.12 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ việc tôn vinh giá trị di sản thiên nhiên, hình thành các thiết chế văn hoá - nghệ thuật, đến những bước ngoặt lớn về chính trị, khoa học và đời sống nhân loại. Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam Vịnh Hạ Long: Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ảnh internet Ngày 17.12.1994 (có tài liệu ghi là ngày 16.12.1994), tại Kỳ họp lần thứ 18 của Ủy ban Di sản thế giới UNESCO tổ chức ở Phuket (Thái Lan), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chính thức được ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới, theo tiêu chí giá trị thẩm mỹ nổi bật toàn cầu. Đây là di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc nước ta, có diện tích khoảng 434 km², gồm hơn 775 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn còn giữ được vẻ nguyên sơ. Hệ thống núi đá vôi, hang động, mặt nước và cảnh quan biển đảo tạo nên một mẫu hình karst nhiệt đới tiêu biểu, có giá trị đặc b...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...