Chuyển đến nội dung chính

Đại thi hào duy nhất của Việt Nam được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới: Xuất thân quý tộc, sở hữu tác phẩm lập kỷ lục thế giới

 Ông đã để lại cho hậu thế một di sản văn chương đồ sộ với nhiều tác phẩm chữ Hán và chữ Nôm có giá trị sâu sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật.

Tính đến nay, Việt Nam có 8 nhân vật tiêu biểu được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới, gồm: Nguyễn Trãi (1980); Chủ tịch Hồ Chí Minh (1990); đại thi hào Nguyễn Du (2015); nhà giáo Chu Văn An (2019); danh nhân Nguyễn Đình Chiểu (2021); nữ sĩ Hồ Xuân Hương (2021); danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (2023) và nhà bác học Lê Quý Đôn (2025). Trong số này, Nguyễn Du là đại thi hào duy nhất được UNESCO vinh danh.

Xuất thân quý tộc nhưng cuộc đời lắm gian truân

Nguyễn Du tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh ngày 03/01/1766 (tức ngày 23/11 năm Ất Dậu) tại phường Bích Câu, Thăng Long; quê gốc ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (cũ), tỉnh Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình quý tộc nhiều đời làm quan dưới triều Lê - Trịnh, nổi tiếng với truyền thống yêu chuộng văn chương và nghệ thuật.

Cha ông là Nguyễn Nghiễm, tên tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, biệt hiệu Hồng Ngự cư sĩ, đỗ Nhị giáp tiến sĩ, từng giữ chức Đại tư đồ - tương đương Tể tướng, đồng thời là Thượng thư bộ Hộ triều Lê. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần (1740-1778), quê ở làng Hoa Thiều, xứ Kinh Bắc (nay thuộc Bắc Ninh), là người có tài hát xướng.

Năm 1767, khi Nguyễn Du mới một tuổi, Nguyễn Nghiễm được phong Thái tử Thái bảo, hàm tòng nhất phẩm, tước Xuân Quận công. Nhờ vậy, gia đình Nguyễn Du cũng được hiển vinh, giàu sang, phú quý.

Tượng Nguyễn Du cao 1,5 m làm bằng đồng, khăn đóng áo dài, tay cầm bút lông tại Khu di tích Nguyễn Du ở thị trấn Tiên Điền, huyện Nghi Xuân. Ảnh: Đức Hùng
Tượng đài Nguyễn Du ở Hà Tĩnh. Ảnh: Internet

Tuy nhiên, biến động lịch sử cuối thế kỷ XVIII nhanh chóng đẩy cuộc đời Nguyễn Du vào nhiều mất mát. Từ năm 1775 đến 1778, ông lần lượt mất anh trai cùng mẹ, cha và mẹ. Năm 1780, anh cả Nguyễn Khản - khi đó là Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội trong vụ án Canh Tý, khiến gia đình rơi vào cảnh ly tán. Nguyễn Du được Đoàn Nguyễn Tuấn đưa về Sơn Nam Hạ (Nam Định cũ) nuôi dạy.

Những năm tiếp theo, tình hình chính trị tiếp tục biến động. Năm 1782, sau khi Trịnh Sâm qua đời, kiêu binh phế Trịnh Cán, lập Trịnh Tông. Hai anh của Nguyễn Du lần lượt được bổ nhiệm chức vụ quan trọng. Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương tại trường Sơn Nam, đỗ Tam trường (Tú tài) lập gia đình với con gái Đoàn Nguyễn Thục và được tập ấm giữ chức Chánh thủ hiệu quân hùng hậu tại Thái Nguyên.

Biến cố tiếp tục xảy ra khi năm 1784, kiêu binh nổi loạn, phá dinh cơ của Nguyễn Khản ở Bích Câu, buộc ông này phải lánh nạn. Đến năm 1786, Nguyễn Khản qua đời. Năm 1789, Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, trong khi Đoàn Nguyễn Tuấn hợp tác với triều Tây Sơn. Nguyễn Du thời điểm này về sống tại quê vợ ở Quỳnh Côi, Thái Bình cũ.

Năm 1791, anh cùng cha khác mẹ của ông là Nguyễn Quýnh bị Tây Sơn bắt và xử tử, dinh cơ họ Nguyễn tại Tiên Điền cũng bị phá hủy. Những năm sau đó, Nguyễn Du nhiều lần đi lại giữa quê nhà và kinh đô Phú Xuân. Năm 1796, ông từng vào Gia Định theo Nguyễn Ánh nhưng bị bắt giam tại Nghệ An 3 tháng, sau đó trở về Tiên Điền sinh sống. Trong thời gian bị giam, ông sáng tác bài thơ My trung mạn hứng.

Sau khi nhà Nguyễn được thành lập, năm 1802, Nguyễn Du ra làm quan dưới triều Gia Long, giữ chức Tri huyện Phù Dung (phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Hưng Yên), sau đó thăng Tri phủ Thường Tín. Năm 1803, ông được cử lên ải Nam Quan đón sứ nhà Thanh sang phong sắc. Năm 1805, ông được phong Đông Các Đại học sĩ, tước Du Đức hầu và vào làm việc tại kinh đô Phú Xuân.

Những năm tiếp theo, Nguyễn Du đảm nhiệm nhiều chức vụ như giám khảo thi Hương ở Hải Dương (1807), Cai bạ Quảng Bình (1809). Năm 1813, ông được thăng Cần chánh điện học sĩ và được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Sau chuyến đi sứ năm 1814, ông được thăng Hữu tham tri bộ Lễ. Đến năm 1820, khi vua Gia Long qua đời, ông được cử tiếp tục làm Chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong, nhưng chưa kịp lên đường thì lâm bệnh và qua đời ngày 10/08 năm Canh Thìn (18/09/1820), hưởng thọ 54 tuổi.

Đại thi hào duy nhất Việt Nam từng được UNESCO vinh danh, là tác giả của tập thơ xác lập 28 kỷ lục - ảnh 2
Khuôn viên khu Di tích Quốc gia đặc biệt Nguyễn Du tại Hà Tĩnh. Ảnh: Internet

Mộ ông ban đầu được an táng tại làng An Ninh, huyện Hương Trà (gần chùa Thiện Mụ), sau đó được cải táng về Tiên Điền, Hà Tĩnh vào năm 1824. Năm 1965, Nguyễn Du được UNESCO vinh danh là danh nhân văn hóa thế giới và tổ chức kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông.

Cuộc đời Nguyễn Du gắn liền với những biến động dữ dội của lịch sử. Từ một người sinh ra trong gia đình quyền quý, ông phải trải qua nhiều năm lưu lạc, sống trong cảnh tha hương. Chính những trải nghiệm ấy đã giúp ông thấu hiểu sâu sắc thân phận con người trong xã hội biến động, từ đó hình thành nên chiều sâu tư tưởng đặc biệt trong sáng tác.

Đưa thơ ca dân tộc đạt tới đỉnh cao rực rỡ

Trước khi qua đời, đại thi hào Nguyễn Du đã để lại cho hậu thế một di sản văn chương đồ sộ với nhiều tác phẩm chữ Hán và chữ Nôm có giá trị sâu sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Tiêu biểu trong số đó là “Thanh Hiên thi tập” - tập thơ sáng tác trước khi ông ra làm quan triều Nguyễn, “Nam trung tạp ngâm” gồm 40 bài viết trong thời gian làm quan tại Huế, Quảng Bình và Hà Tĩnh giai đoạn 1805-1812, cùng “Bắc hành tạp lục” với 133 bài thơ ra đời trong chuyến đi sứ Trung Quốc năm 1813.

Tuy nhiên, đỉnh cao làm nên tên tuổi Nguyễn Du, đưa văn học dân tộc đạt tới tầm vóc rực rỡ, chính là “Truyện Kiều”. Tác phẩm có tên gốc “Đoạn trường tân thanh”, được sáng tác bằng thể thơ lục bát với 3.254 câu. Dựa trên cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), Nguyễn Du đã sáng tạo lại bằng việc thổi hồn dân tộc vào từng câu chữ, biến câu chuyện gốc thành bức tranh phản ánh sinh động xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.

Nội dung tác phẩm xoay quanh cuộc đời 15 năm lưu lạc của Thúy Kiều - người con gái tài sắc, hiếu thảo và giàu lòng nhân ái. Bi kịch gia đình đã buộc nàng phải bán mình chuộc cha, từ đó rơi vào vòng xoáy nghiệt ngã của xã hội phong kiến với những biến cố đau thương, chịu cảnh “thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần”. Qua số phận Thúy Kiều, Nguyễn Du đã khắc họa sâu sắc nỗi đau của con người, đặc biệt là người phụ nữ, dưới sự chà đạp của những thế lực tàn bạo.

Ngày Tết về thăm Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Đại thi hào Nguyễn Du -5
Bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm đang được lưu giữ tại Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Đại thi hào Nguyễn Du. Ảnh: Đại biểu Nhân dân

Giá trị hiện thực của “Truyện Kiều” thể hiện ở việc phơi bày bộ mặt bất công, mục nát của xã hội đương thời. Tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc phản ánh nỗi khổ mà còn là tiếng nói lên án mạnh mẽ những thế lực tước đoạt quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Song song với đó, giá trị nhân đạo được thể hiện qua sự trân trọng con người, đề cao tình yêu tự do, khát vọng công lý và lòng nhân ái. Câu chuyện tình giữa Kim Trọng và Thúy Kiều trở thành biểu tượng cho tình yêu thủy chung, trong sáng, vượt lên những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến.

Ở phương diện nghệ thuật, “Truyện Kiều” là đỉnh cao của ngôn ngữ và thi pháp. Nguyễn Du đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân, đưa tiếng Việt và thể thơ lục bát đạt tới trình độ mẫu mực. Nghệ thuật tự sự được triển khai tự nhiên, giàu cảm xúc; khả năng miêu tả tâm lý và khắc họa tính cách nhân vật đạt độ tinh tế, sâu sắc, tạo nên sức hấp dẫn bền bỉ cho tác phẩm.

Trải qua hơn 2 thế kỷ, “Truyện Kiều” vẫn giữ nguyên sức sống trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt, được truyền tụng rộng rãi và lan tỏa trong nhiều lĩnh vực như thi ca, âm nhạc, hội họa, sân khấu. Tác phẩm không chỉ là biểu tượng văn hóa dân tộc mà còn trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo cho nhiều thế hệ nghệ sĩ trong và ngoài nước.

Vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, “Truyện Kiều” đã góp phần đưa văn học Việt Nam hội nhập với văn hóa thế giới. Theo PGS.TS Từ Thị Loan, trong bài “Nguyễn Du và Truyện Kiều ở nước ngoài” đăng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An tháng 5/2020: “Tính đến nay đã có trên 30 bản dịch Truyện Kiều ra ngót 20 thứ tiếng nước ngoài”. Điều này cho thấy sức lan tỏa rộng lớn của tác phẩm, đồng thời khẳng định vị thế của văn học Việt Nam trên trường quốc tế.

Đại thi hào duy nhất Việt Nam từng được UNESCO vinh danh, là tác giả của tập thơ xác lập 28 kỷ lục - ảnh 4
Có trên 30 bản dịch Truyện Kiều ra gần 20 thứ tiếng nước ngoài. Ảnh: Internet

Sự ghi nhận đối với Nguyễn Du và kiệt tác của ông còn được thể hiện qua nhiều dấu mốc quan trọng. Ngày 25/10/2013, tại kỳ họp lần thứ 37 của Đại hội đồng UNESCO tổ chức tại Paris, Nguyễn Du được vinh danh trong Quyết định số 37C/15 cùng 107 Danh nhân Văn hóa thế giới. Đây là sự khẳng định những đóng góp to lớn của ông đối với văn học dân tộc và di sản văn hóa nhân loại.

Tiếp đó, ngày 2/12/2015, Tổ chức Liên minh Kỷ lục Thế giới đã xác nhận “Truyện Kiều” là “Tác phẩm văn học tạo nên nhiều kỷ lục quốc gia nhất”. Hội đồng tổ chức đánh giá: “Truyện Kiều” của Nguyễn Du (1765-1820) gồm 3.254 câu thơ lục bát là một kiệt tác văn học. Tác phẩm này đã chinh phục các thế hệ công chúng trong hơn 200 năm qua.

Văn bản của Hội đồng cũng nêu rõ: "Mặc dù chúng tôi chưa thật sự hiểu rõ những giá trị to lớn về nội dung và nghệ thuật mà tác giả Nguyễn Du truyền tải qua tác phẩm “Truyện Kiều”, nhưng qua nghiên cứu 27 kỷ lục Việt Nam (và được biết con số này vẫn chưa dừng lại) mà VIETKINGS đã xác lập từ năm 2005 đến nay cho thấy tác phẩm này có sức ảnh hưởng rộng lớn đến các lĩnh vực văn hóa tại Việt Nam.

Con số 27 kỷ lục là một con số ấn tượng về số lượng kỷ lục quốc gia mà đến nay chưa có một tác phẩm văn học nào đạt được trên thế giới. Các kỷ lục này được thể hiện một cách đa dạng qua các hình thức sách báo, dịch thuật, điêu khắc, tranh lụa, hợp xướng, thư pháp, sân khấu… Tất cả đã góp phần tôn vinh những nét văn hóa mà “Truyện Kiều” mang lại cho đời sống văn hóa, tinh thần của người dân tại Việt Nam".

Đại thi hào duy nhất Việt Nam từng được UNESCO vinh danh, là tác giả của tập thơ xác lập 28 kỷ lục - ảnh 5
“Truyện Kiều” là “Tác phẩm văn học tạo nên nhiều kỷ lục quốc gia nhất”. Ảnh: Internet

Đến nay, “Truyện Kiều” đã được chuyển ngữ sang hơn 20 ngôn ngữ với trên 35 bản dịch, tiếp cận đông đảo độc giả quốc tế. Với những giá trị tư tưởng, nhân văn và nghệ thuật bền vững theo thời gian, tác phẩm không chỉ là niềm tự hào của dân tộc mà còn là biểu tượng tiêu biểu cho bản sắc và tâm hồn Việt Nam trên bản đồ văn hóa thế giới.

Bài viết có sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:

- “Truyện Kiều”: Bài học 200 năm vẫn chưa hết tính thời sự - Báo Công an Nhân dân

- Điểm lại 7 Danh nhân của Việt Nam được UNESCO vinh danh - Trang Thông tin Đối ngoại

- Truyện Kiều của Nguyễn Du xác lập Kỷ lục Thế giới - Báo Dân trí

- Tiểu sử Đại thi hào Dân tộc Nguyễn Du - Trường Tiểu học Nguyễn Du

- “Họ Nguyễn Tiên Điền và khu Di tích Nguyễn Du”, Đinh Sỹ Hồng, Ban quản lý khu di tích Nguyễn Du - NXB Nghệ An - 2005.

- Thân thế và sự nghiệp của Đại thi hào Nguyễn Du (1765-1820) - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

UNESCO là gì? Việt Nam có những di sản nào được UNESCO công nhận

UNESCO là một cụm từ được nhiều người biết tới khi có chức năng công nhận các di sản văn hóa trên thế giới. Vậy, UNESCO là gì? Việt Nam đã có những di sản nào được UNESCO công nhận? Tổ chức UNESCO là gì? UNESCO là tên gọi viết tắt của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO).  UNESCO là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hợp quốc, được thành lập với mục đích "thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo" (trích Công ước thành lập UNESCO). UNESCO hiện đã có mặt trên 191 quốc gia thành viên và trụ sở chính đặt tại Pháp, với hơn 50 văn phòng và các trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới, một trong các dự án của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới. Một trong những hoạt động nổi bật của UNESCO...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...