Chuyển đến nội dung chính

Cần lắm một cơ chế “mở đường” thông thoáng

 

VHO - Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa và xây dựng các đô thị sáng tạo, việc tham gia Mạng lưới các Thành phố sáng tạo của UNESCO (UCCN) không còn là một danh hiệu mang tính biểu trưng, mà đã trở thành một lựa chọn chiến lược.

 Đó là con đường để các đô thị khẳng định vị thế trên bản đồ sáng tạo toàn cầu, đồng thời mở ra cơ hội kết nối, hợp tác, thu hút nguồn lực và thúc đẩy phát triển bền vững dựa trên văn hóa.

Cho phép địa phương chủ động hơn

Chính vì vậy, việc Chính phủ ban hành Nghị định 308/2025/NĐ-CP là một bước tiến quan trọng, tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng và đệ trình hồ sơ tham gia các cơ chế của UNESCO, trong đó có Mạng lưới Thành phố sáng tạo.

Tuy nhiên, nhìn từ thực tiễn triển khai và yêu cầu ngày càng cao của UNESCO, có thể thấy rằng quy định hiện hành tuy đã đặt nền móng, nhưng vẫn cần sớm được điều chỉnh theo hướng linh hoạt, kiến tạo hơn để thực sự “mở đường” cho các địa phương.

 Một hồ sơ Thành phố sáng tạo, nếu thiếu sự tham gia của các lĩnh vực như quy hoạch đô thị, giáo dục, công nghiệp sáng tạo, du lịch, truyền thông hay khu vực tư nhân, sẽ khó có thể đạt được yêu cầu của UNESCO. Và quan trọng hơn, ngay cả khi được công nhận, việc triển khai cũng sẽ gặp nhiều lúng túng. Vì vậy, điều cần thiết là cần bổ sung cơ chế cho phép địa phương chủ động hơn ngay từ đầu.

Trước hết, cần khẳng định rằng Nghị định đã xác lập một quy trình quản lý chặt chẽ: Từ việc địa phương đề nghị, Bộ VHTTDL thẩm định, đến việc Thủ tướng Chính phủ quyết định việc đệ trình UNESCO. Cách tiếp cận này bảo đảm tính thống nhất trong đối ngoại văn hóa, tránh tình trạng đề xuất tràn lan, thiếu kiểm soát. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, quy trình này vẫn mang nặng tư duy “hồ sơ vinh danh”, trong khi bản chất của Mạng lưới Thành phố sáng tạo lại hoàn toàn khác. Khác với các danh hiệu di sản, hồ sơ Thành phố sáng tạo không chỉ là việc chứng minh “có gì”, mà quan trọng hơn là trả lời câu hỏi “sẽ làm gì”.

Đó là một bản cam kết phát triển trong tương lai, với kế hoạch hành động cụ thể, cơ chế vận hành rõ ràng, sự tham gia của cộng đồng sáng tạo và nguồn lực tài chính bảo đảm. Nói cách khác, đây là một hồ sơ mang tính chiến lược phát triển đô thị, không thể chỉ giao cho một cơ quan chuyên môn như ngành văn hóa thực hiện theo cách truyền thống.

Chính ở điểm này, quy định của Nghị định 308 bộc lộ một khoảng trống khi chưa có quy định cụ thể về tổ chức bộ máy xây dựng hồ sơ tại địa phương, rất dễ dẫn đến tình trạng riêng ngành văn hóa phải làm một nhiệm vụ liên ngành.

Một hồ sơ Thành phố sáng tạo, nếu thiếu sự tham gia của các lĩnh vực như quy hoạch đô thị, giáo dục, công nghiệp sáng tạo, du lịch, truyền thông hay khu vực tư nhân, sẽ khó có thể đạt được yêu cầu của UNESCO. Và quan trọng hơn, ngay cả khi được công nhận, việc triển khai cũng sẽ gặp nhiều lúng túng.

Vì vậy, điều cần thiết là cần bổ sung cơ chế cho phép địa phương chủ động hơn ngay từ đầu. Không nên đặt nặng việc “xin phép lập hồ sơ” như một thủ tục bắt buộc trước khi bắt tay vào chuẩn bị. Thực tiễn cho thấy, để xây dựng một hồ sơ đạt chuẩn quốc tế, các thành phố cần ít nhất từ một đến hai năm nghiên cứu, khảo sát, tham vấn và thử nghiệm. Nếu không cho phép chủ động chuẩn bị sớm, địa phương sẽ luôn ở thế bị động, khó theo kịp chu kỳ xét chọn của UNESCO.

Thiết kế một “con đường” đủ thông thoáng

Một điểm khác cũng cần được nhìn nhận lại là việc “thực hiện theo quy định của UNESCO” đối với thành phần hồ sơ. Cách quy định này giúp tránh trùng lặp, nhưng lại thiếu đi vai trò định hướng của quốc gia.

Trong khi UNESCO chỉ đưa ra khung chung, mỗi quốc gia cần có tiêu chí riêng để lựa chọn hồ sơ phù hợp nhất. Bởi lẽ, mỗi kỳ xét chọn thường giới hạn số lượng hồ sơ từ một quốc gia, thậm chí yêu cầu đa dạng lĩnh vực sáng tạo. Nếu không có cơ chế sơ tuyển rõ ràng, rất dễ dẫn đến cạnh tranh nội bộ thiếu định hướng, hoặc lựa chọn chưa thật sự tối ưu.

Thực tế quốc tế cho thấy, những quốc gia thành công trong mạng lưới này đều có cơ chế hỗ trợ rất mạnh từ Trung ương: Từ hướng dẫn kỹ thuật, đào tạo đội ngũ, kết nối chuyên gia đến hỗ trợ xây dựng nội dung hồ sơ.

Trong khi đó, quy định hiện hành của ta mới dừng ở khâu thẩm định và trình duyệt, chưa thể hiện rõ vai trò “đồng hành” của cơ quan quản lý nhà nước. Đây là một khoảng trống đáng lưu ý, bởi hồ sơ Thành phố sáng tạo không chỉ cần đúng quy định, mà còn cần “đúng cách viết”, “đúng cách kể câu chuyện” theo chuẩn quốc tế.

Một vấn đề nữa là tư duy “sau khi được công nhận mới xây dựng đề án”. Trên thực tế, UNESCO đánh giá rất kỹ kế hoạch hành động bốn năm ngay trong hồ sơ ứng cử. Nếu không chuẩn bị từ đầu, thì việc xây dựng đề án sau khi được công nhận sẽ mang tính hình thức, thiếu tính khả thi.

Do đó, cần điều chỉnh theo hướng, đề án phát triển Thành phố sáng tạo phải là một phần cốt lõi của hồ sơ, không phải là bước tiếp theo. Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng điều mà các địa phương cần không chỉ là một quy trình quản lý, mà là một cơ chế hỗ trợ mang tính kiến tạo. Một cơ chế cho phép họ chủ động chuẩn bị, được hướng dẫn chuyên sâu, được lựa chọn minh bạch và được đồng hành trong suốt quá trình từ xây dựng hồ sơ đến triển khai sau công nhận.

Trong bối cảnh mới, khi các đô thị như Huế đang định hình chiến lược phát triển dựa trên văn hóa và sáng tạo, việc tham gia Mạng lưới Thành phố sáng tạo UNESCO không chỉ là một mục tiêu, mà là một công cụ phát triển. Nhưng để công cụ đó phát huy hiệu quả, cần một khung thể chế phù hợp, không chỉ đúng về quản lý, mà còn đúng về bản chất của sáng tạo.

Nói một cách ngắn gọn, nếu coi Thành phố sáng tạo là một hành trình dài, thì Nghị định 308 mới chỉ vạch ra “điểm xuất phát”. Điều cần làm tiếp theo là thiết kế một “con đường” đủ thông thoáng, đủ linh hoạt và đủ hỗ trợ để các địa phương có thể đi đến đích, không chỉ là được vinh danh, mà là thực sự trở thành những đô thị sáng tạo, sống động và bền vững. 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

UNESCO là gì? Việt Nam có những di sản nào được UNESCO công nhận

UNESCO là một cụm từ được nhiều người biết tới khi có chức năng công nhận các di sản văn hóa trên thế giới. Vậy, UNESCO là gì? Việt Nam đã có những di sản nào được UNESCO công nhận? Tổ chức UNESCO là gì? UNESCO là tên gọi viết tắt của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO).  UNESCO là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hợp quốc, được thành lập với mục đích "thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo" (trích Công ước thành lập UNESCO). UNESCO hiện đã có mặt trên 191 quốc gia thành viên và trụ sở chính đặt tại Pháp, với hơn 50 văn phòng và các trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới, một trong các dự án của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới. Một trong những hoạt động nổi bật của UNESCO...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...