Chuyển đến nội dung chính

Con người và thiên nhiên cùng 'sống khỏe' trong các khu UNESCO

 

Nghiên cứu mới cho thấy các khu vực được UNESCO công nhận đang tạo điều kiện cho con người và thiên nhiên cùng phát triển, góp phần phục hồi nhiều loài và hệ sinh thái.

Trong bối cảnh quần thể động vật hoang dã toàn cầu đã suy giảm gần 75% kể từ năm 1970, các khu vực được UNESCO công nhận vẫn duy trì được sự ổn định đáng kể. 

Theo ông Tales Carvalho Resende, đồng tác giả báo cáo Con người và Thiên nhiên trong các khu bảo tồn UNESCO, đây là tín hiệu tích cực, cho thấy các khu vực này có khả năng chống chịu tốt trước những biến động của thế giới.

Các khu bảo tồn được UNESCO công nhận đóng góp quan trọng trong phát triển con người và phục hồi thiên nhiên. Ảnh: Pexels. 

Các khu bảo tồn được UNESCO công nhận đóng góp quan trọng trong phát triển con người và phục hồi thiên nhiên. Ảnh: Pexels. 

UNESCO hiện có ba hình thức công nhận: Di sản thế giới - các giá trị văn hóa, tự nhiên nổi bật toàn cầu và được bảo vệ theo Công ước 1972; khu dự trữ sinh quyển - mô hình phát triển bền vững; và công viên địa chất toàn cầu - nơi có giá trị địa chất đặc biệt. Trong đó, Di sản thế giới có ràng buộc pháp lý cao nhất.

Ba loại hình này bao phủ hơn 13 triệu km², diện tích lớn hơn cả Trung Quốc và Ấn Độ cộng lại. Hơn 60% số loài trên Trái đất sinh sống tại đây, trong đó khoảng 40% không tồn tại ở nơi nào khác. 

Nhiều loài động vật biểu tượng - vốn suy giảm mạnh do săn trộm, mất môi trường sống và áp lực từ con người - đang tìm được nơi trú ẩn an toàn trong các khu vực do UNESCO công nhận. Tại đây, chúng được bảo vệ tốt hơn so với những nơi khác. Khoảng 1/3 quần thể voi, hổ và gấu trúc còn lại trên thế giới sinh sống trong các khu vực này. Ngoài ra, đây cũng là nơi cư trú của khoảng 10% các loài linh trưởng lớn, hươu cao cổ, sư tử, tê giác và bò biển.

Một số loài nguy cấp nhất thậm chí gần như chỉ còn tồn tại tại đây, như toàn bộ khoảng 10 cá thể cá heo vaquita, khoảng 60 cá thể tê giác Java, và khoảng 85% quần thể đười ươi Sumatra – ước tính khoảng 15.000 cá thể.

Không chỉ bảo tồn thiên nhiên, các khu vực do UNESCO công nhận còn là nơi sinh sống của khoảng 1/10 dân số thế giới, đóng góp tương đương 10% GDP toàn cầu nhờ các lợi ích từ đa dạng sinh học. Báo cáo trên, lần đầu tiên đánh giá toàn bộ 2.260 khu vực được chỉ định, cũng nhấn mạnh vai trò kinh tế và xã hội quan trọng của các khu bảo tồn được UNESCO công nhận. 

Các khu vực này là nơi sinh sống của khoảng 900 triệu người, với hơn 1.000 ngôn ngữ. Khoảng 1/4 trong số đó nằm trên lãnh thổ của các cộng đồng bản địa và nhiều nơi do chính họ trực tiếp quản lý.

Báo cáo cũng cho thấy các khu bảo tồn được UNESCO công nhận lưu trữ khoảng 240 gigaton carbon - tương đương gần hai thập kỷ phát thải từ nhiên liệu hóa thạch.

Tuy vậy, các khu bảo tồn vẫn đang chịu áp lực lớn. Kể từ năm 2000, hơn 300.000 km² rừng đã suy giảm trong các khu vực do UNESCO công nhận, chủ yếu do mở rộng nông nghiệp và khai thác gỗ. Khoảng 90% các khu vực này cũng đang phải đối mặt với tình hình căng thẳng môi trường cao, đặc biệt là tình trạng nắng nóng cực đoan.

Theo UNESCO, cứ 4 khu bảo tồn thì có 1 nơi có nguy cơ chạm ngưỡng khí hậu nguy hiểm vào năm 2050, kéo theo các hệ quả như băng tan, rạn san hô sụp đổ và rừng chuyển từ hấp thụ sang phát thải carbon.

Ông Carvalho nhận định biến đổi khí hậu hiện là mối đe dọa lớn nhất, và các khu vực này cần thích ứng nhanh để đối mặt với những thách thức sắp tới. “Đây là những nơi rất đáng để đầu tư bảo vệ,” ông nói.

Tổng giám đốc UNESCO cảnh báo: “Trong các khu vực này, cộng đồng phát triển, di sản nhân loại được gìn giữ, và đa dạng sinh học vẫn tồn tại trong khi nhiều nơi khác đang suy sụp. Báo cáo cho thấy chúng ta có thể mất gì nếu không ưu tiên bảo vệ những khu vực này”.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

UNESCO là gì? Việt Nam có những di sản nào được UNESCO công nhận

UNESCO là một cụm từ được nhiều người biết tới khi có chức năng công nhận các di sản văn hóa trên thế giới. Vậy, UNESCO là gì? Việt Nam đã có những di sản nào được UNESCO công nhận? Tổ chức UNESCO là gì? UNESCO là tên gọi viết tắt của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO).  UNESCO là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hợp quốc, được thành lập với mục đích "thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo" (trích Công ước thành lập UNESCO). UNESCO hiện đã có mặt trên 191 quốc gia thành viên và trụ sở chính đặt tại Pháp, với hơn 50 văn phòng và các trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới, một trong các dự án của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới. Một trong những hoạt động nổi bật của UNESCO...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...