Chuyển đến nội dung chính

Di sản thế giới vùng Đông Bắc: Từ UNESCO vinh danh đến phát triển bền vững di sản

 Tại kỳ họp lần thứ 47 của UNESCO ở Paris, quần thể Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn - Kiếp Bạc chính thức được ghi danh Di sản Văn hóa Thế giới - một dấu mốc tự hào của Việt Nam. Tuy nhiên, đi cùng vinh danh là bài toán không mới nhưng ngày càng cấp thiết: Làm thế nào để phát huy giá trị di sản trong đời sống hiện đại mà vẫn giữ được sự tĩnh lặng, thiêng liêng vốn có?

1t33.jpg
Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn - Kiếp Bạc được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Cơ hội lan tỏa di sản sau vinh danh của UNESCO

Danh hiệu Di sản Thế giới thường tạo cú hích mạnh mẽ, thu hút ngày càng nhiều du khách đến khám phá và trải nghiệm. Thực tế tại Vịnh Hạ Long hay Quần đảo Cát Bà cho thấy, việc được vinh danh không chỉ nâng tầm hình ảnh điểm đến mà còn mở ra cơ hội hoàn thiện hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch vụ và lan tỏa giá trị di sản một cách rộng rãi hơn.

Với quần thể Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn - Kiếp Bạc, giá trị càng trở nên đặc biệt khi không chỉ hội tụ cảnh quan, kiến trúc mà còn là không gian tâm linh gắn với Thiền phái Trúc Lâm. Sự quan tâm ngày càng lớn của người dân vì thế không chỉ là áp lực, mà còn là cơ hội để những giá trị tinh thần cốt lõi được nhận diện, gìn giữ và lan tỏa sâu rộng hơn.

Trong các mùa lễ hội, nếu được tổ chức và điều tiết hợp lý, dòng du khách đông đảo hoàn toàn có thể trở thành nguồn lực tích cực. Việc phân luồng, kiểm soát quy mô, nâng cao ý thức trải nghiệm sẽ vừa đáp ứng nhu cầu chiêm bái, vừa bảo tồn được sự tĩnh tại - yếu tố làm nên “linh hồn” của di sản. Khi đó, phát triển du lịch không đối lập với bảo tồn, mà trở thành một phương thức nuôi dưỡng di sản một cách bền vững.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Văn Bài, nguyên Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia, di sản sau khi được vinh danh cần một cơ chế quản lý đủ mạnh để vừa giữ được tính toàn vẹn, vừa tạo “sức sống mới” cho cộng đồng.

Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng, nếu buông lỏng kiểm soát, các hoạt động khai thác dễ trượt sang xu hướng thương mại hóa, làm phai nhạt giá trị gốc - điều từng xảy ra ở không ít điểm đến.

Câu chuyện tại Côn Sơn - Kiếp Bạc là một minh chứng rõ nét. Trước đề xuất mở rộng khai quật khảo cổ nhằm gia tăng giá trị trưng bày, Ban Quản lý đã lựa chọn giữ nguyên trạng, chấp nhận hạn chế khai thác để bảo vệ tính nguyên gốc của di sản. Đây không chỉ là một quyết định quản lý, mà còn thể hiện nguyên tắc xuyên suốt: Phát huy giá trị phải đặt trên nền tảng bảo tồn.

2t33.jpg
Phật tử cầu an ở chùa Ngọa Vân, xã Bình Khê, tỉnh Quảng Ninh.

Phát huy di sản gắn với bảo tồn bền vững

Quần thể Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn - Kiếp Bạc gắn liền với Phật hoàng Trần Nhân Tông và triết lý “cư trần lạc đạo” - sống giữa đời mà vẫn giữ được sự an nhiên trong tâm. Đây cũng là gợi mở quan trọng cho cách tiếp cận di sản hôm nay: không “đóng kín” để bảo tồn tuyệt đối, mà cần đặt trong mối quan hệ sống động với cộng đồng.

Theo ông Nguyễn Việt Dũng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh, phát triển du lịch là xu thế tất yếu khi di sản đã được thế giới ghi nhận, song cần lựa chọn hướng đi phù hợp, ưu tiên chất lượng thay vì số lượng. Điều này đòi hỏi chiến lược dài hạn, trong đó bảo tồn được đặt ngang với mục tiêu tăng trưởng.

Nhiều chuyên gia đề xuất định hướng “du lịch chậm”, du lịch văn hóa - tâm linh đúng nghĩa, nơi du khách không chỉ tham quan mà còn trải nghiệm, chiêm nghiệm và kết nối với giá trị tinh thần của di sản. Bên cạnh đó, công nghệ như thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) có thể hỗ trợ mở rộng khả năng tiếp cận, góp phần giảm áp lực lên không gian thực.

Là di sản liên tỉnh, quần thể này đặt ra yêu cầu về một cơ chế quản lý thống nhất, xuyên suốt. Theo đó, cần phân vùng rõ ràng: vùng lõi được bảo vệ nghiêm ngặt nhằm giữ gìn tính nguyên gốc, vùng đệm được quy hoạch cho các hoạt động dịch vụ; đồng thời kiểm soát “sức chứa” để tránh quá tải.

Theo bà Nguyễn Thị Thùy Liên, Trưởng ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, chuyển đổi số với các sản phẩm 3D, trải nghiệm 360 độ đang góp phần quảng bá hiệu quả, đồng thời giảm áp lực lên di tích.

UNESCO cũng nhấn mạnh cách tiếp cận cộng đồng: di sản phải được bảo vệ trong cộng đồng, bởi cộng đồng và vì cộng đồng. Người dân không chỉ là “người giữ di sản” mà còn là chủ thể hưởng lợi. Tuy nhiên, các hoạt động khai thác cần đặt trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, tránh xu hướng thương mại hóa làm biến dạng giá trị.

Cùng với đó, giáo dục di sản giữ vai trò nền tảng lâu dài, giúp mỗi người dân trở thành một “đại sứ văn hóa”. Để quần thể di sản tồn tại bền vững, điều cốt lõi không chỉ là quy hoạch hay công nghệ, mà là một tư duy phát triển tỉnh táo, trong đó bảo tồn là nền tảng, còn phát huy phải nằm trong giới hạn của giá trị.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

UNESCO là gì? Việt Nam có những di sản nào được UNESCO công nhận

UNESCO là một cụm từ được nhiều người biết tới khi có chức năng công nhận các di sản văn hóa trên thế giới. Vậy, UNESCO là gì? Việt Nam đã có những di sản nào được UNESCO công nhận? Tổ chức UNESCO là gì? UNESCO là tên gọi viết tắt của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO).  UNESCO là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hợp quốc, được thành lập với mục đích "thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo" (trích Công ước thành lập UNESCO). UNESCO hiện đã có mặt trên 191 quốc gia thành viên và trụ sở chính đặt tại Pháp, với hơn 50 văn phòng và các trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới, một trong các dự án của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới. Một trong những hoạt động nổi bật của UNESCO...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...