Chuyển đến nội dung chính

Định vị cà phê Việt Nam như “di sản sống” trong dòng chảy toàn cầu

 Diễn đàn Cà phê Thế giới với chủ đề “Từ những truyền thống đa dạng đến di sản sống chung của nhân loại” diễn ra từ ngày 17 - 19/4 tại Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), do UBND tỉnh Đắk Lắk phối hợp với UNESCO, Trường Đại học Văn hóa TP. HCM và Tập đoàn Trung Nguyên Legend tổ chức.

Diễn đàn Di sản Cà phê Thế giới tại Buôn Ma Thuột, quy tụ các nhà lãnh đạo, tổ chức quốc tế và chuyên gia, mở ra không gian đối thoại cấp cao về di sản, văn hóa và tương lai của cà phê. (Ảnh: cafef.vn)
Diễn đàn Di sản Cà phê Thế giới tại Buôn Ma Thuột, quy tụ các nhà lãnh đạo, tổ chức quốc tế và chuyên gia, mở ra không gian đối thoại cấp cao về di sản, văn hóa và tương lai của cà phê. (Ảnh: cafef.vn)

Sự kiện quy tụ lãnh đạo Trung ương, địa phương, các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, chuyên gia và cộng đồng thực hành cà phê trong và ngoài nước, tạo không gian đối thoại đa chiều về văn hóa, kinh tế và phát triển bền vững của ngành cà phê.

Phát biểu tại diễn đàn, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao, Nguyễn Minh Vũ nhấn mạnh, việc quảng bá tri thức trồng và chế biến cà phê Đắk Lắk không chỉ lan tỏa hình ảnh Tây Nguyên mà còn thúc đẩy đối thoại đa văn hóa, gia tăng giá trị và từng bước định vị cà phê Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Với gần 40 tham luận, trong đó 14 báo cáo tiêu biểu được trình bày tại 4 phiên chuyên đề, Diễn đàn tiếp cận cà phê từ nhiều góc độ: lịch sử, sản xuất, văn hóa tiêu dùng và thực hành bảo tồn bền vững. Các nghiên cứu cho thấy cà phê không chỉ là sản phẩm nông nghiệp mà còn là không gian giao tiếp xã hội, nơi giao thoa văn hóa giữa các nền văn minh. Từ Trung Đông, châu Âu đến châu Mỹ và châu Á, mỗi quốc gia đã góp phần tạo nên hệ sinh thái văn hóa cà phê đa dạng nhưng thống nhất trong dòng chảy toàn cầu.

Ở góc độ sản xuất, cà phê được nhìn nhận như một hệ sinh thái gắn kết giữa tri thức bản địa, cảnh quan và sinh kế cộng đồng. Các thảo luận cũng làm rõ yêu cầu phát triển chuỗi giá trị bền vững, nâng cao trách nhiệm xã hội và định hướng xây dựng Đắk Lắk trở thành “thủ phủ cà phê thế giới” gắn với chuyển đổi xanh.

Đáng chú ý, Diễn đàn mở rộng cách tiếp cận cà phê như một thực thể văn hóa sống động. Không gian cà phê ngày nay không chỉ phục vụ tiêu dùng mà còn trở thành môi trường sáng tạo, đối thoại và kết nối cộng đồng, với các xu hướng như “cà phê chậm”, “triết lý cà phê” hay ứng dụng công nghệ số.

Từ kinh nghiệm quốc tế, các mô hình bảo tồn và phát triển bền vững được chia sẻ, nhấn mạnh vai trò trung tâm của cộng đồng trong gìn giữ và trao truyền di sản. Theo đại diện UNESCO, di sản văn hóa phi vật thể không nằm ở sản phẩm hữu hình mà ở tri thức, kỹ năng và thực hành xã hội được duy trì qua các thế hệ.

Trong bối cảnh đó, cà phê Việt Nam được định vị không chỉ là ngành xuất khẩu chủ lực mà còn là “di sản sống” hội tụ tri thức, bản sắc và lối sống. Đặc biệt, “Tri thức trồng và chế biến cà phê Đắk Lắk” đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (tháng 3/2025), tạo nền tảng để hướng tới các danh hiệu quốc tế.

Diễn đàn khẳng định, nâng tầm cà phê từ sản phẩm kinh tế thành di sản văn hóa là hướng đi chiến lược, vừa bảo tồn giá trị bản địa, vừa mở rộng không gian phát triển. Với sự đồng hành của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng, cà phê Việt Nam được kỳ vọng trở thành biểu tượng văn hóa quốc gia, đóng góp vào đối thoại toàn cầu và hướng tới mục tiêu được UNESCO ghi danh là di sản của nhân loại.

Hậu Thạch (t/h)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

UNESCO là gì? Việt Nam có những di sản nào được UNESCO công nhận

UNESCO là một cụm từ được nhiều người biết tới khi có chức năng công nhận các di sản văn hóa trên thế giới. Vậy, UNESCO là gì? Việt Nam đã có những di sản nào được UNESCO công nhận? Tổ chức UNESCO là gì? UNESCO là tên gọi viết tắt của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO).  UNESCO là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hợp quốc, được thành lập với mục đích "thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo" (trích Công ước thành lập UNESCO). UNESCO hiện đã có mặt trên 191 quốc gia thành viên và trụ sở chính đặt tại Pháp, với hơn 50 văn phòng và các trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới, một trong các dự án của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới. Một trong những hoạt động nổi bật của UNESCO...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...