Chuyển đến nội dung chính

Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam lan tỏa sắc màu di sản

 

Việc triển khai Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026-2030 được kỳ vọng sẽ tiếp tục lan tỏa những giá trị đặc sắc của văn hóa dân tộc, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế.

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ngày 19/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030.

Kế hoạch hướng tới tạo đợt sinh hoạt văn hóa - chính trị sâu rộng, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người dân, khẳng định vai trò của cộng đồng trong sáng tạo, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa; đồng thời tôn vinh di sản, quảng bá bản sắc Việt Nam gắn với phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa.

"Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026-2030: Lan tỏa bản sắc, quảng bá hình ảnh đất nước - Ảnh 1.

Ảnh minh họa

Lan tỏa giá trị di sản văn hóa truyền thống Việt Nam

Theo kế hoạch, tháng 11 hằng năm sẽ trở thành thời điểm cao điểm triển khai các hoạt động hưởng ứng "Ngày Văn hóa Việt Nam" trên phạm vi cả nước. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức chuỗi chương trình văn hóa, thể thao và du lịch đa dạng, góp phần tôn vinh những giá trị đặc sắc của văn hóa dân tộc, khơi dậy niềm tự hào và ý thức gìn giữ bản sắc Việt Nam.

Kế hoạch nhằm mục đích tạo đợt sinh hoạt văn hóa - chính trị sâu rộng trong toàn xã hội; khẳng định vai trò trung tâm của Nhân dân với tư cách là chủ thể sáng tạo, bảo tồn, trao truyền các giá trị văn hóa; nâng cao khả năng tiếp cận, sáng tạo, thụ hưởng văn hóa của Nhân dân; khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, trách nhiệm công dân và khát vọng cống hiến vì sự phồn vinh, hạnh phúc của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tôn vinh các giá trị, di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; phát huy nét đặc sắc của văn hóa vật thể, phi vật thể và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, làng nghề, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa gắn với phát triển kinh tế, tạo sinh kế bền vững cho người dân, thúc đẩy phát triển du lịch và nâng tầm thương hiệu văn hóa Việt Nam.

Tạo sự thống nhất trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đồng bộ từ trung ương đến cơ sở; làm căn cứ để các ban, bộ, ngành, cơ quan trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ và bố trí nguồn lực triển khai, thực hiện.

Đẩy mạnh tổ chức các sự kiện văn hóa, nghệ thuật, thể thao tầm vóc quốc gia

Triển khai chuỗi sự kiện văn hóa, nghệ thuật, thể thao quy mô lớn. Chú trọng kết hợp hài hòa giữa truyền thống và đương đại, khuyến khích ứng dụng công nghệ trình diễn hiện đại nhằm tạo sức lan tỏa sâu rộng, thu hút đông đảo nghệ sĩ, nghệ nhân và Nhân dân tham gia.

Tổ chức đặt hàng, tạo điều kiện và không gian thuận lợi để đội ngũ trí thức, nhà văn hóa, văn nghệ sĩ, nghệ nhân phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo; tổ chức các chiến dịch sáng tác chuyên đề, triển lãm chuyên sâu và chuỗi trình diễn nghệ thuật trọng điểm kết hợp giữa truyền thống và đương đại thông qua các Hội văn học nghệ thuật chuyên ngành.

arrow_forward_ios
Đọc thêm
00:18
00:05
00:30

Tổ chức các sự kiện văn hóa đối ngoại tại các trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài; các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để lan tỏa giá trị "Ngày Văn hóa Việt Nam" đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế.

Phát triển các tuyến du lịch trải nghiệm tại không gian di sản, làng nghề và cộng đồng bản địa; phục dựng các lễ hội truyền thống nhằm tạo sinh kế bền vững, bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn di sản với phát triển kinh tế.

Tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh, thúc đẩy kết nối cộng đồng

Đẩy mạnh đầu tư hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở, phát triển các không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng, tạo nền tảng xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, giàu bản sắc. Trong đó, khu dân cư là hạt nhân, người dân giữ vai trò trung tâm trong kiến tạo và lan tỏa đời sống văn hóa.

Bên cạnh đó, phát triển mạnh mẽ văn hóa đọc theo hướng lấy người đọc làm trung tâm; nhân rộng các mô hình không gian đọc, thư viện mở, học tập sáng tạo và thông minh gắn với các sinh hoạt cộng đồng. Đẩy mạnh phong trào toàn dân đọc sách nhằm hình thành thói quen và kỹ năng đọc bền vững cho người dân.

Tổ chức các chương trình, hoạt động chuyên đề giới thiệu di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số, trang phục, trò chơi dân gian, ẩm thực và giới thiệu tinh hoa thủ công mỹ nghệ.

Xây dựng và nhân rộng các mô hình bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc gắn với phát triển du lịch. Xác lập vai trò chủ thể trực tiếp của cộng đồng trong bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững nhằm tạo sinh kế ổn định, phù hợp với bản sắc và phong tục tập quán.

Ngày 24/11 hằng năm là "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam gồm 13 Điều, quy định một số cơ chế, chính sách phát triển văn hóa Việt Nam.

Nghị quyết nêu rõ: Ngày 24 tháng 11 hằng năm là "Ngày Văn hóa Việt Nam", người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương.

Miễn hoặc giảm phí, lệ phí dịch vụ tham quan tại các cơ sở văn hóa, thể thao công lập vào Ngày Văn hóa Việt Nam theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đồng thời khuyến khích Nhân dân, đặc biệt là thanh niên, trẻ em tham gia các hoạt động văn hóa vào các ngày lễ lớn của dân tộc và đất nước.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

UNESCO là gì? Việt Nam có những di sản nào được UNESCO công nhận

UNESCO là một cụm từ được nhiều người biết tới khi có chức năng công nhận các di sản văn hóa trên thế giới. Vậy, UNESCO là gì? Việt Nam đã có những di sản nào được UNESCO công nhận? Tổ chức UNESCO là gì? UNESCO là tên gọi viết tắt của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO).  UNESCO là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hợp quốc, được thành lập với mục đích "thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo" (trích Công ước thành lập UNESCO). UNESCO hiện đã có mặt trên 191 quốc gia thành viên và trụ sở chính đặt tại Pháp, với hơn 50 văn phòng và các trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới, một trong các dự án của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới. Một trong những hoạt động nổi bật của UNESCO...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...