Chuyển đến nội dung chính

Ngôi làng nhỏ ở Hội An vừa được UNESCO vinh danh "Làng Du lịch tốt nhất thế giới": Cách phố cổ 3km, vé vào chỉ 35 nghìn

 Cách phố cổ Hội An chỉ một quãng đạp xe ngắn, có một ngôi làng 400 năm tuổi vừa được UN Tourism xướng tên trong danh sách "Làng Du lịch Tốt nhất Thế giới". Nhưng điều khiến du khách quay lại không phải danh hiệu mà là cảm giác bình yên đến lạ khi được xắn quần lội ruộng, ngửi mùi đất ẩm và nghe tiếng cuốc đất lạch cạch giữa luống rau xanh mướt.

Nằm nép mình bên dòng sông Đế Võng hiền hòa, cách phố cổ Hội An chừng 3km về phía Đông Bắc, làng Trà Quế thuộc xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc phường Hội An Tây, TP. Đà Nẵng) là một trong những làng nghề trồng rau lâu đời và độc đáo bậc nhất Việt Nam. Tháng 12/2024, ngôi làng nhỏ này chính thức được Tổ chức Du lịch Liên Hợp Quốc (UN Tourism) vinh danh là "Làng Du lịch tốt nhất thế giới" - một dấu mốc đưa cái tên Trà Quế vượt ra ngoài biên giới Việt Nam, trở thành điểm đến mà bất kỳ ai yêu sự bình yên đều muốn ghé qua một lần.

Ngôi làng nhỏ ở Hội An vừa được UNESCO vinh danh "Làng Du lịch tốt nhất thế giới": Cách phố cổ 3km, vé vào chỉ 35 nghìn- Ảnh 1.

Ngôi làng 400 năm tuổi và truyền thuyết cái tên "trà thơm"

Theo các nguồn sử liệu địa phương, làng Trà Quế có lịch sử hơn 400 năm, hình thành từ thế kỷ 16 khi những cư dân đầu tiên đến vùng đất bãi bồi ven sông Đế Võng khai khẩn. Cái tên "Trà Quế" tương truyền bắt nguồn từ thời vua Gia Long. Trong một lần ngự giá đi qua, nhà vua được dâng món ăn có rau thơm của làng, mùi vị thanh tao, hương như trà, vị như quế, nên đặt cho vùng đất cái tên đầy ý vị: Trà Quế. Cũng từ đó, rau Trà Quế trở thành thứ rau "tiến vua", chỉ dành cho hoàng cung và các bậc quyền quý.

Điều khiến rau Trà Quế khác biệt nằm ở chính mảnh đất nuôi dưỡng nó. Đất phù sa pha cát bồi đắp từ sông Đế Võng kết hợp với một loại rong tảo đặc biệt mà người dân địa phương gọi là "rong cù lao" - được vớt từ đầm Trà Quế, ủ mục rồi bón cho rau. Chính loại phân hữu cơ tự nhiên này đã tạo nên hương vị đặc trưng không nơi nào có được: Rau thơm hơn, đậm vị hơn, lá nhỏ và dày hơn so với rau cùng loại trồng ở vùng khác.

Ngôi làng nhỏ ở Hội An vừa được UNESCO vinh danh "Làng Du lịch tốt nhất thế giới": Cách phố cổ 3km, vé vào chỉ 35 nghìn- Ảnh 6.

@bi.review.channel

Bước vào Trà Quế là bước vào một "bảo tàng sống"

Ấn tượng đầu tiên của bất kỳ ai khi đặt chân đến Trà Quế là không gian xanh ngát trải dài khắp tầm mắt. Trên diện tích khoảng 18 hecta, hơn 200 hộ dân vẫn canh tác hơn 20 loại rau thơm khác nhau: Húng quế, húng lủi, tía tô, kinh giới, rau răm, ngò gai, hành lá, xà lách, diếp cá, é trắng, ngổ… Mỗi luống rau được vun thành những liếp nhỏ vuông vắn, phân chia bằng những lối đi đất nâu, tạo nên bức tranh đồng quê đẹp như tranh vẽ.

Điều đặc biệt là người dân nơi đây vẫn giữ nguyên cách canh tác truyền thống suốt 400 năm qua. Họ không dùng máy móc hiện đại, không phun thuốc trừ sâu hóa học. Sáng sớm, khi sương còn đọng trên lá, các bà các chị đã đội nón lá, gánh đôi gàu sòng đi tưới rau. Tiếng nước chảy róc rách, tiếng gàu va vào nhau lách cách, mùi đất ẩm hòa với mùi rau thơm tạo nên một bản giao hưởng đồng quê khiến lòng người dịu lại.

Trải nghiệm "một ngày làm nông dân" - lý do du khách quốc tế mê mẩn

Một trong những điều khiến Trà Quế trở thành điểm đến yêu thích của du khách nước ngoài là tour trải nghiệm "Một ngày làm nông dân Trà Quế". Với mức giá khá mềm, chỉ từ 35.000 - 150.000 đồng tùy gói, du khách được khoác áo nâu, đội nón lá, học cách cuốc đất, gieo hạt, vun luống và đặc biệt là gánh nước tưới rau bằng gàu sòng đôi - một kỹ thuật đòi hỏi sự khéo léo mà người dân Trà Quế đã thành thục qua nhiều thế hệ. Sau buổi lao động, du khách được mời vào nhà dân, thưởng thức món bánh xèo Trà Quế hoặc tam hữu (một món gỏi cuốn đặc sản gồm tôm, thịt và rau Trà Quế) ngay tại vườn.

Nhiều du khách chia sẻ cảm giác như được "chữa lành" thật sự khi rời xa máy tính, điện thoại, ngồi giữa luống rau, hít hà mùi húng quế, lắng nghe tiếng chim hót và tiếng người dân nói chuyện bằng giọng Quảng đặc trưng. Đó là thứ trải nghiệm mà không một resort sang trọng nào có thể mang lại.

Đi Trà Quế mùa nào đẹp nhất?

Trà Quế đẹp quanh năm, nhưng đẹp nhất là từ tháng 2 đến tháng 4 - thời điểm rau xanh tốt, thời tiết mát mẻ, nắng dịu, ít mưa. Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 8 cũng là lúc làng nhộn nhịp nhất với các lễ hội văn hóa, đặc biệt là Lễ hội Cầu Bông tổ chức vào mùng 7 tháng Giêng âm lịch hằng năm - dịp người dân tạ ơn tổ tiên và cầu mong mùa màng bội thu.

Du khách có thể đến Trà Quế bằng xe đạp từ phố cổ Hội An (khoảng 15-20 phút đạp xe), bằng xe máy hoặc xe ô tô. Vé tham quan làng hiện ở mức 35.000 đồng/người, đã bao gồm trải nghiệm cơ bản. Nhiều homestay trong làng cũng mở cửa đón khách lưu trú với giá từ 300.000 - 800.000 đồng/đêm, mang đến trải nghiệm sống chậm đúng nghĩa.

Ngôi làng nhỏ ở Hội An vừa được UNESCO vinh danh "Làng Du lịch tốt nhất thế giới": Cách phố cổ 3km, vé vào chỉ 35 nghìn- Ảnh 13.

Giá trị của Trà Quế không chỉ nằm ở những luống rau xanh hay cảnh đẹp, mà ở cách người dân nơi đây gìn giữ một di sản sống. Họ canh tác hữu cơ không phải vì xu hướng, mà vì đó là cách ông bà đã làm. Họ đón khách không bằng dịch vụ chuyên nghiệp hóa, mà bằng nụ cười chân chất và bữa cơm mời ăn cùng. Họ giữ làng không bằng những bảng hiệu hoành tráng, mà bằng việc mỗi sáng vẫn dậy từ 4 giờ để ra vườn.

Đến Trà Quế, người ta không chỉ tham quan một làng nghề mà được sống chậm lại, được nhắc nhớ rằng giữa thế giới vội vã này, vẫn còn những nơi mà thời gian dường như đứng yên, và cái đẹp được nuôi dưỡng từ chính sự bình dị nhất.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

UNESCO là gì? Việt Nam có những di sản nào được UNESCO công nhận

UNESCO là một cụm từ được nhiều người biết tới khi có chức năng công nhận các di sản văn hóa trên thế giới. Vậy, UNESCO là gì? Việt Nam đã có những di sản nào được UNESCO công nhận? Tổ chức UNESCO là gì? UNESCO là tên gọi viết tắt của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO).  UNESCO là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hợp quốc, được thành lập với mục đích "thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo" (trích Công ước thành lập UNESCO). UNESCO hiện đã có mặt trên 191 quốc gia thành viên và trụ sở chính đặt tại Pháp, với hơn 50 văn phòng và các trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới, một trong các dự án của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới. Một trong những hoạt động nổi bật của UNESCO...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...