Chuyển đến nội dung chính

Người phụ nữ Việt Nam duy nhất được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới: Là nhà thơ kiệt xuất của nền thi ca, tác phẩm được dịch ra 13 thứ tiếng

 Các tác phẩm thi ca của bà được đánh giá mang giá trị vượt thời đại, thể hiện rõ dấu ấn cá nhân và bản lĩnh sáng tạo.

Tính tới thời điểm hiện tại, Việt Nam có 8 nhân vật tiêu biểu được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới: Nguyễn Trãi (1980); Chủ tịch Hồ Chí Minh (1990); thi hào Nguyễn Du (2015); Nhà giáo Chu Văn An (2019); danh nhân Nguyễn Đình Chiểu (2021); nữ sĩ Hồ Xuân Hương (2021); danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (2023) và nhà bác học Lê Quý Đôn (2025). Trong số này, "Bà chúa thơ Nôm" Hồ Xuân Hương là nữ danh nhân duy nhất, ghi dấu ấn đặc biệt trong tiến trình văn học dân tộc.

Nữ sĩ xuất sắc của nền thi ca Việt Nam

Hồ Xuân Hương (1772-1822), là con gái của cụ đồ Hồ Phi Diễn (1704-1786), người làng Quỳnh Đôi, nay thuộc xã Quỳnh Anh, tỉnh Nghệ An. Dù có gốc gác xứ Nghệ, bà trưởng thành và gắn bó với không gian văn hóa Thăng Long. Sự giao thoa giữa nét cứng cỏi, thẳng thắn của con người Nghệ An với sự tinh tế, thanh lịch của đất kinh kỳ đã góp phần tạo nên một cá tính sáng tạo độc đáo, giàu chiều sâu và đậm chất nhân văn ở nữ sĩ.

Liên quan đến niên đại sáng tác, trước đây nhiều công trình nghiên cứu cho rằng Hồ Xuân Hương chủ yếu hoạt động vào nửa cuối thế kỷ XVIII, dưới thời Tây Sơn. Tuy nhiên, một số tư liệu được phát hiện sau này cho thấy phần lớn sáng tác của bà có thể tập trung vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn.

ho-xuan-huong-1_1776248576.jpg
Chân dung nữ sĩ Hồ Xuân Hương được hậu thế khắc họa lại. Ảnh: Internet

Thơ Hồ Xuân Hương được đánh giá mang giá trị vượt thời đại, thể hiện rõ dấu ấn cá nhân và bản lĩnh sáng tạo. Tác phẩm của bà nhấn mạnh vai trò cái “tôi” trữ tình, vừa phản ánh hiện thực đời sống theo cách riêng, vừa thể hiện quá trình tự ý thức và khám phá nội tâm của chủ thể sáng tạo.

Trong nhiều bài thơ, tác giả đặt mình ở ngôi thứ nhất, trực tiếp bộc lộ tâm trạng và hoàn cảnh riêng thông qua các cách xưng danh như Xuân Hương, thân này, thiếp, thân em, tôi… Những câu thơ quen thuộc như: “Này của Xuân Hương mới quệt rồi” (Mời trầu); “Thân này ví biết dường này nhỉ” (Làm lẽ); “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” (Bánh trôi nước)… đã góp phần khắc họa rõ nét tiếng nói cá nhân đầy cá tính trong thơ ca trung đại.

Những di sản để lại tạo tiếng vang muôn đời

Di sản sáng tác của Hồ Xuân Hương được lưu giữ qua 2 nguồn chính. Thứ nhất là hơn 50 bài thơ Nôm được truyền tụng rộng rãi từ khi bà còn sống, tồn tại dưới nhiều dị bản khác nhau và được chép, khắc bằng chữ Nôm. Thứ hai là nguồn thư tịch cổ do nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại phát hiện, tiêu biểu là tập “Lưu Hương ký”, được chép cùng các văn bản khác trong “Du Hương Tích động ký”. Tập thơ này gồm 24 bài thơ chữ Hán và 26 bài thơ chữ Nôm.

Tuy nhiên, do quá trình lưu truyền chủ yếu bằng hình thức truyền miệng qua nhiều thế hệ, các tác phẩm của Hồ Xuân Hương đã có sự sai khác đáng kể so với nguyên bản. Việc thêm bớt từ ngữ trong quá trình truyền tụng khiến số lượng dị bản tăng lên, gây khó khăn cho công tác phục dựng văn bản gốc. Bên cạnh đó, một số tác phẩm cũng bị thất lạc hoặc nhầm lẫn với sáng tác của các tác giả khác.

Không chỉ được đánh giá cao trong nước, Hồ Xuân Hương còn nhận được sự ghi nhận từ giới nghiên cứu và văn học quốc tế. Rabindranath Tagore (danh nhân văn hóa, nhà thơ, triết gia và nhạc sĩ vĩ đại người Ấn Độ và là người đầu tiên tại châu Á đoạt giải Nobel Văn học năm 1913) từng bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với thơ ca của bà. Sau này, nhà thơ người Pháp Jan Rixtal, trong lời tựa bản dịch thơ Hồ Xuân Hương sang tiếng Pháp, đã đánh giá bà là một trong những tên tuổi lớn của văn học Việt Nam, đồng thời là một trong những nữ sĩ tiêu biểu của châu Á.

ho-xuan-huong-2_1776248576.jpg
Bức tượng bằng đồng của bà Hồ Xuân Hương tại Bảo tàng Văn học Việt Nam. Ảnh: Internet

Tính đến năm 2021, thơ Hồ Xuân Hương đã được chuyển ngữ sang 13 ngôn ngữ trên thế giới. Qua các bản dịch, tiếng Việt trong thơ bà được nhìn nhận như một ngôn ngữ nghệ thuật giàu tính đa nghĩa, hàm súc, sắc sảo và tinh tế, đặt ra nhiều thách thức cho các học giả và dịch giả khi chuyển tải sang ngôn ngữ khác.

Hồ Xuân Hương nổi tiếng với trí tuệ sắc sảo, song điều kiện học hành không thuận lợi và đời sống tình cảm của bà cũng trải qua nhiều thăng trầm. Theo một số ghi chép, bà từng có hai cuộc hôn nhân. Học giả Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), trong bài viết công bố trên Tập san Khoa học Xã hội, Paris, số 12/1983, cho biết bà từng là vợ của Trần Phúc Hiển, con trai một công thần triều Nguyễn, khi ông giữ chức Tham hiệp trấn Yên Quảng trong khoảng thời gian từ năm 1815 đến 1818; trước đó, ông từng làm Tri phủ Vĩnh Tường.

Việc UNESCO thông qua nghị quyết kỷ niệm 250 năm Ngày sinh và 200 năm Ngày mất của Hồ Xuân Hương không chỉ khẳng định giá trị văn học nghệ thuật đặc sắc, mà còn ghi nhận những tư tưởng tiến bộ về bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ thể hiện trong sáng tác của bà. Với những đóng góp đó, Hồ Xuân Hương được xem là danh nhân văn hóa có tầm vóc quốc tế, để lại dấu ấn bền vững trong lịch sử văn học và tư tưởng nhân văn của nhân loại.

Bảo Lam

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

UNESCO là gì? Việt Nam có những di sản nào được UNESCO công nhận

UNESCO là một cụm từ được nhiều người biết tới khi có chức năng công nhận các di sản văn hóa trên thế giới. Vậy, UNESCO là gì? Việt Nam đã có những di sản nào được UNESCO công nhận? Tổ chức UNESCO là gì? UNESCO là tên gọi viết tắt của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO).  UNESCO là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hợp quốc, được thành lập với mục đích "thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo" (trích Công ước thành lập UNESCO). UNESCO hiện đã có mặt trên 191 quốc gia thành viên và trụ sở chính đặt tại Pháp, với hơn 50 văn phòng và các trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới, một trong các dự án của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới. Một trong những hoạt động nổi bật của UNESCO...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...