Chuyển đến nội dung chính

Người trẻ giữ hồn xưa: Giữ nghề đã làm nên di sản thế giới

 Di sản tư liệu thế giới mộc bản triều Nguyễn đã được UNESCO vinh danh, nhưng ít ai biết ở làng nghề 600 năm tuổi làm nên di sản đó vẫn còn truyền nhân - những nghệ nhân trẻ.

Dấu ấn làng nghề 600 năm tuổi

Nghề khắc in mộc bản Thanh Liễu (Hải Dương cũ) có lịch sử gần 600 năm, nổi tiếng với kỹ thuật khắc mộc bản tinh xảo, giá trị.

Theo các tài liệu lịch sử ghi chép lại, các nghệ nhân của làng nghề mộc bản Thanh Liễu xưa chính là tác giả đã khắc tạo nên những bộ mộc bản như mộc bản triều Nguyễn, mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và mộc bản trường học Phúc Giang, được UNESCO vinh danh là Di sản tư liệu của Chương trình ký ức thế giới.

Người trẻ giữ hồn xưa: Giữ nghề đã làm nên di sản thế giới- Ảnh 1.

Các nghệ nhân làng Thanh Liễu khắc mộc bản

ẢNH: CÔNG ĐẠT

Theo Dư địa chí thành phố Hải Dương ghi lại, tổ nghề in khắc gỗ ở Thanh Liễu là thám hoa Lương Như Hộc, sinh năm 1420 (Canh Tý) tại làng Hồng Lục thuộc tổng Thạch Khôi, huyện Trường Tân (trước là P.Tân Hưng, TP.Hải Dương; nay thuộc TP.Hải Phòng). Thám hoa Lương Như Hộc có 2 lần đi sứ Trung Quốc, đem nghề in mộc bản về truyền dạy cho 2 học trò đầu tiên là Phạm Niên (Phạm Trên) và Phạm Đới (Phạm Dưới). Sau đó, 2 người này đã truyền nghề lại cho dân làng Hồng Lục, Liễu Tràng rồi lan sang thôn Khuê Liễu bên cạnh. Ba làng tạo thành trung tâm khắc in bản mộc của cả nước, kéo dài từ thế kỷ 15 - 19.

Nghề khắc ván in sách đã đem lại cuộc sống khá giả cho cả 3 làng, nên thời đó có câu: Đình Sinh, quán Sếu, chùa Tràng/Trong ba làng ấy không làm cũng có ăn. Hay như trong sách Hải Dương phong vật khúc, khi viết về nghề in ấn ở Hồng Lục - Liễu Tràng cũng có câu: Phường Hồng Lục, Liễu Tràng khắc chữ/Bản bộ kinh, bộ sử rành rành.

Dưới thời Nguyễn, ở 2 làng Liễu Tràng, Thanh Liễu có hàng trăm người làm nghề khắc khuôn in chữ. Triều đình đã tuyển chọn khoảng 20 người đủ trình độ để giao khắc kinh sách của triều đình. Những thợ giỏi này sau khi hoàn thành một công trình in ấn được triều đình hậu đãi và phong hàm cửu phẩm.

Người trẻ giữ hồn xưa: Giữ nghề đã làm nên di sản thế giới- Ảnh 2.

Nghệ nhân Nguyễn Công Đạt giới thiệu bản in từ mộc bản Thanh Liễu tại Ngự Hà viên ở Huế

ẢNH: NGÔ QUÝ ĐỨC

Trải qua gần 600 năm lịch sử truyền nghề, đến nay thế hệ nghệ nhân đương đại đang lưu giữ nghề mộc bản làng Thanh Liễu không còn nhiều. Nhưng lớp nghệ nhân trẻ với tình yêu và niềm tự hào nghề nghiệp của tổ tiên truyền lại vẫn kiên trì giữ nghề và tìm cách tạo ra giá trị mới để phát huy giá trị di sản.

Người trẻ giữ nghề

Nghệ nhân Nguyễn Công Đạt (28 tuổi, khu Thanh Liễu, tỉnh Hải Dương cũ; nay là P.Tân Hưng, TP.Hải Phòng) là hậu duệ đời thứ 17 của làng nghề mộc bản Thanh Liễu. "Tôi cảm thấy rất tự hào về làng nghề mộc bản của tổ tiên", Đạt nói.

Từ thời nhà hậu Lê, nghệ nhân làng nghề Thanh Liễu cũng đã được sung vào Lục Tràng cục, chuyên làm bản khắc gỗ phục vụ việc in ấn cho triều đình. Đến thời nhà Nguyễn, nghệ nhân làng nghề này cũng tiếp tục được triều đình trọng dụng. "Di sản lưu lại giờ đã trở thành di sản tư liệu của thế giới", Đạt chia sẻ.

Phát huy và lưu giữ di sản của làng nghề, hiện nay ngoài phục chế các văn bản cổ, lớp nghệ nhân trẻ như Nguyễn Công Đạt đã sáng tạo thêm các dòng tranh khắc gỗ thành sản phẩm văn hóa để phục vụ du khách, trình diễn nghề cho các lớp học trải nghiệm… Với cách làm đó, hồi tháng 8.2025, nhóm nghệ nhân của Đạt đã có dịp đến cố đô Huế tham gia sự kiện tuần lễ Mạch nguồn di sản do Ngự Hà viên - Phường Bách nghệ tổ chức.

Theo nghệ nhân Đạt, trong chuyến đi Huế lần ấy, anh đã có dịp hội ngộ với những bản khắc gỗ của các thế hệ nghệ nhân Thanh Liễu để lại trên đất Huế. Mộc bản Thanh Liễu với kỹ thuật khắc bằng dao ngang - dấu ấn không thể nhầm lẫn của làng Thanh Liễu, vẫn còn rất rõ trên các bản khắc gỗ hiện đang lưu giữ tại nhà GS-TS Thái Kim Lan, phủ Tùng Thiện vương, phủ Tuy Lý vương, chùa Hải Đức…

Tại Huế, nhóm nghệ nhân của Đạt cũng có dịp trình diễn và kể về hành trình hồi sinh, gìn giữ những giá trị của nghề khắc ván in mộc bản mà cha ông để lại. Du khách được các nghệ nhân trẻ giới thiệu về lịch sử làng nghề và được mục sở thị các bản khắc cổ, ván khắc tranh cổ, dụng cụ khắc, các ấn phẩm mộc bản của làng nghề Thanh Liễu. Các nghệ nhân cũng hướng dẫn du khách trải nghiệm, thực hành khắc, in mộc bản.

Chuyến đi Huế lần này, anh Đạt thu hoạch nhiều cho việc phát huy nghề mộc bản khi thu thập thêm vào kho mẫu in những biểu tượng linh vật trên Cửu đình, mẫu bình phong Long mã. Dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Đạt cho ra mắt mẫu "mã đáo thành công" mới mà anh sáng tác dựa trên cảm hứng từ biểu tượng Long mã ở Huế.

Tại Huế, đã có những cuộc gặp gỡ từ 3 miền, các workshop, những câu chuyện. Và hơn hết, một hy vọng mãnh liệt nhen nhóm khi hàng trăm người đã "chạm" vào di sản có dấu ấn làng nghề 600 năm: di sản mộc bản triều Nguyễn. (còn tiếp)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

UNESCO là gì? Việt Nam có những di sản nào được UNESCO công nhận

UNESCO là một cụm từ được nhiều người biết tới khi có chức năng công nhận các di sản văn hóa trên thế giới. Vậy, UNESCO là gì? Việt Nam đã có những di sản nào được UNESCO công nhận? Tổ chức UNESCO là gì? UNESCO là tên gọi viết tắt của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO).  UNESCO là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hợp quốc, được thành lập với mục đích "thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo" (trích Công ước thành lập UNESCO). UNESCO hiện đã có mặt trên 191 quốc gia thành viên và trụ sở chính đặt tại Pháp, với hơn 50 văn phòng và các trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới, một trong các dự án của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới. Một trong những hoạt động nổi bật của UNESCO...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...