Chuyển đến nội dung chính

Rực rỡ sắc màu lễ rước kiệu về Đền Hùng

 Hòa trong không khí linh thiêng của những ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, Lễ rước kiệu của các xã, phường, thị trấn vùng ven Khu di tích lịch sử Đền Hùng (xã Hy Cương, tỉnh Phú Thọ) diễn ra trang nghiêm, rực rỡ sắc màu, thu hút đông đảo người dân và du khách hòa mình vào dòng chảy văn hóa truyền thống.

Từ bao đời nay, lễ rước kiệu vẫn được gìn giữ như một nét sinh hoạt văn hóa tiêu biểu, là sợi dây gắn kết cộng đồng và tiếp nối mạch nguồn truyền thống từ quá khứ đến hiện tại. Không chỉ tôn vinh giá trị của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, di sản đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, lễ rước kiệu còn góp phần gìn giữ, lan tỏa những nét đẹp văn hóa từ thời đại dựng nước.

R%u1EF1c r%u1EE1 s%u1EAFc màu l%u1EC5 r%u01B0%u1EDBc ki%u1EC7u v%u1EC1 %u0110%u1EC1n Hùng

Các đoàn rước kiệu từ sân trung tâm hành lễ lên Khu di tích lịch sử Đền Hùng

Năm nay, Lễ rước kiệu về Đền Hùng có sự góp mặt của đội tế lễ thuộc 4 xã vùng ven Khu di tích lịch sử Đền Hùng gồm: Hy Cương, Lâm Thao, Vân Phú, Xuân Lũng. Qua đó, góp phần tạo nên không khí trang nghiêm, đồng thời thể hiện sự chung tay gìn giữ di sản của các cộng đồng cư dân nơi Đất Tổ. Đúng giờ lành, đoàn rước kiệu bắt đầu xuất phát. Đi đầu là đội múa lân - sư - rồng với những bước nhảy dứt khoát, uyển chuyển, tiếng trống dồn dập làm không khí thêm phần náo nức. Theo sau là đoàn rước Quốc kỳ và cờ hội. Sắc cờ đỏ nổi bật giữa nền trời, trang nghiêm mà đầy tự hào. Tiếp đến là đội rước cờ thần nhỏ; các thiếu nữ đội lễ vật, hương hoa; đoàn người đánh chiêng, trống, đội bát âm và múa sinh tiền, rước bát bửu, rước tàn, lọng, đội kiệu, chủ tế và quan viên...

Trong tiếng trống hội âm vang, tiếng nhạc sênh tiền uyển chuyển xen lẫn hương trầm ngào ngạt, những chàng trai, cô gái, các bô lão và dân làng xúng xính trong những bộ áo dài, quần the, khăn xếp rất nghiêm trang, nét mặt đầy vui tươi, háo hức. Mỗi bước đi đều đều, nhịp nhàng như hòa chung một nhịp đập, hướng tấm lòng thành kính, biết ơn đến các vị vua Hùng.

Nổi bật trong đoàn rước là những chiếc kiệu bát cống được trang trí công phu, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Trên kiệu là lễ vật dâng lên các Vua Hùng gồm hương, hoa, quả, bánh chưng, bánh giầy cùng nhiều sản vật địa phương. Mỗi lễ vật không chỉ mang giá trị vật chất mà còn chất chứa lòng thành kính của con cháu hướng về tổ tiên. Từng bước chân chậm rãi, ánh mắt nghiêm trang, tất cả tạo nên một không gian vừa thiêng liêng, vừa gần gũi.

Đồng chí Nguyễn Thị Hương Nhị, Phó chủ tịch UBND xã Lâm Thao, chia sẻ: “Địa phương không chỉ nâng cao chất lượng tổ chức lễ rước kiệu mà còn mong muốn góp phần gìn giữ, phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống; đồng thời lan tỏa tinh thần đoàn kết, niềm tự hào của nhân dân hướng về cội nguồn dân tộc. Việc huy động đông đảo người dân tham gia cũng góp phần tăng cường sự gắn kết cộng đồng, nâng cao ý thức trách nhiệm trong bảo tồn di sản”.

R%u1EF1c r%u1EE1 s%u1EAFc màu l%u1EC5 r%u01B0%u1EDBc ki%u1EC7u v%u1EC1 %u0110%u1EC1n Hùng
Đoàn rước tiến về núi Nghĩa Lĩnh, nơi thờ tự các Vua Hùng

Dọc hai bên đường, người dân đứng kín, chăm chú dõi theo đoàn rước. Nhiều gia đình đưa cả trẻ nhỏ đi cùng, vừa xem lễ, vừa kể cho con cháu nghe về nguồn cội. Sự góp mặt đông đảo của người dân và du khách đã tạo nên không gian văn hóa đầy sức sống. Qua đó, người dân có cơ hội hiểu hơn về lịch sử, cội nguồn dân tộc cũng như bồi đắp ý thức gắn kết cộng đồng.

Chị Nguyễn Thị Lan (sinh năm 1980, du khách đến từ Ninh Bình) chia sẻ: “Tôi đã biết về lễ rước kiệu từ lâu nên năm nay tôi đến tỉnh Phú Thọ trước ngày diễn ra lễ giỗ để chứng kiến trực tiếp. Không khí rất trang nghiêm mà cũng rất xúc động. Nhìn mọi người thành kính như vậy, tôi thấy tự hào về truyền thống dân tộc mình”.

Đoàn rước đi qua sân Trung tâm lễ hội, dừng lại tại cổng chính để thực hiện nghi thức vọng lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, nơi thờ tự các Vua Hùng. Khoảnh khắc ấy, không gian dường như lắng đọng lại trong tiếng nhạc lễ trầm hùng và khói hương nghi ngút lan tỏa. Ai nấy đều hướng lòng thành kính sâu sắc đến các vị Vua Hùng đã có công dựng nước. Sau nghi thức, đoàn tiếp tục tiến về khu vực ngã 5 Đền Giếng, dưới chân bức phù điêu Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong. Đây là điểm dừng chân mang nhiều ý nghĩa, gợi nhắc sự nối tiếp giữa truyền thống dựng nước và giữ nước.

Ông Trần Văn Dũng (sinh năm 1970, ở tại xã Hy Cương, tỉnh Phú Thọ) chia sẻ: “Năm nào tôi cũng đến xem lễ rước. Dù vậy nhưng tôi vẫn thấy xúc động mỗi khi đoàn rước lễ đi qua. Đây không chỉ là một nghi lễ mà còn là dịp để mọi người gắn kết với nhau, cùng nhớ về tổ tiên”.

Giữa dòng người đông đúc, trong âm vang rộn ràng của tiếng trống hội và sắc màu rực rỡ của cờ hoa, Lễ rước kiệu của các xã, phường, thị trấn vùng ven Khu di tích lịch sử Đền Hùng không chỉ là một nghi thức truyền thống mà còn là biểu tượng sống động của đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Mỗi bước chân trong đoàn rước như nối dài lịch sử, đưa quá khứ hòa vào hiện tại, để từ đó, tinh thần dân tộc tiếp tục được gìn giữ và lan tỏa qua từng thế hệ.

    Theo QĐND điện tử

    Nhận xét

    Bài đăng phổ biến từ blog này

    Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

    Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

    UNESCO là gì? Việt Nam có những di sản nào được UNESCO công nhận

    UNESCO là một cụm từ được nhiều người biết tới khi có chức năng công nhận các di sản văn hóa trên thế giới. Vậy, UNESCO là gì? Việt Nam đã có những di sản nào được UNESCO công nhận? Tổ chức UNESCO là gì? UNESCO là tên gọi viết tắt của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO).  UNESCO là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hợp quốc, được thành lập với mục đích "thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo" (trích Công ước thành lập UNESCO). UNESCO hiện đã có mặt trên 191 quốc gia thành viên và trụ sở chính đặt tại Pháp, với hơn 50 văn phòng và các trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới, một trong các dự án của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới. Một trong những hoạt động nổi bật của UNESCO...

    Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

    Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...