Chuyển đến nội dung chính

Vùng đất duy nhất Việt Nam là quê hương của 44 vị vua, có 'báu vật' 600 tuổi được UNESCO công nhận

 Đây là quê hương của các triều đại phong kiến gồm nhà Tiền Lê, nhà Hậu Lê, nhà Hồ, nhà Nguyễn và 2 đời chúa là chúa Trịnh, chúa Nguyễn.

Trong lịch sử Việt Nam, hiếm có vùng đất nào được nhắc đến với vai trò là nơi phát tích của nhiều triều đại như Thanh Hóa.

Từ lâu, dân gian đã lưu truyền câu nói: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ”, nhằm khẳng định vị thế đặc biệt của vùng đất này trong tiến trình lịch sử dân tộc. Nếu Nghệ An nổi tiếng là nơi sản sinh nhiều hiền tài, công thần thì Thanh Hóa lại được xem là “đất đế vương”, gắn với sự hình thành và phát triển của nhiều triều đại phong kiến.

1_1776915889.png
Tỉnh Thanh Hóa là cái nôi của nhiều triều đại lịch sử. Ảnh: Internet

Vùng đất địa linh gắn với các triều đại lớn

Theo nhiều tài liệu lịch sử, Thanh Hóa là quê hương của 44 vị vua Việt Nam, trải dài qua 4 triều đại lớn gồm nhà Tiền Lê, nhà Hồ, nhà Hậu Lê và nhà Nguyễn. Bên cạnh đó, 2 dòng họ từng nắm giữ thực quyền trong lịch sử là chúa Trịnh và chúa Nguyễn cũng có nguồn gốc từ vùng đất này.

Thanh Hóa nằm cách Hà Nội khoảng 150km về phía Nam, có diện tích khoảng 11.156km². Phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp Lào, phía Bắc giáp Sơn La, Phú Thọ và Ninh Bình, phía Nam giáp Nghệ An. Với vị trí địa lý này, nơi đây từ lâu được xem là vùng đất có ý nghĩa chiến lược, vừa là cửa ngõ giao thương, vừa giữ vai trò quan trọng trong phòng thủ và phát triển qua các thời kỳ.

Không chỉ có điều kiện tự nhiên đa dạng, Thanh Hóa còn được nhắc đến như một vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi sản sinh nhiều nhân vật có ảnh hưởng lớn trong lịch sử dân tộc. Sử sách ghi nhận 4 triều đại phong kiến có nguồn gốc từ Thanh Hóa với tổng cộng 44 vị vua.

2_1776915955.png
Tượng Lê Lợi ở Thanh Hóa. Ảnh: Internet

Cụ thể, nhà Tiền Lê có 3 vị vua, nhà Hồ có 2 vị vua, nhà Hậu Lê có 26 vị vua và nhà Nguyễn có 13 vị vua. Đây là con số nổi bật, góp phần khẳng định vai trò đặc biệt của Thanh Hóa trong dòng chảy lịch sử Việt Nam.

Dấu ấn các triều đại trên vùng đất xứ Thanh

Ngay từ những thế kỷ đầu Công nguyên, Thanh Hóa đã ghi dấu với nhiều nhân vật lịch sử tiêu biểu. Nổi bật là Bà Triệu (Triệu Thị Trinh), nữ anh hùng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân Đông Ngô năm 248 tại vùng núi Nưa (Triệu Sơn ngày nay). Khí phách và tài năng của bà khiến đối phương vừa khiếp sợ vừa nể phục, được dân gian lưu truyền qua câu nói: “Hoành qua đương hổ dị, đối diện Bà Vương nan”. Dù không lập triều đại riêng, bà vẫn được quân Ngô tôn xưng là “Vương”.

Gần 7 thế kỷ sau, Thanh Hóa tiếp tục ghi dấu với Dương Đình Nghệ, người làng Giàng (nay thuộc xã Thiệu Dương). Năm 931, ông lãnh đạo quân dân đánh đuổi quân đô hộ nhà Đường, giành lại quyền tự chủ và chiếm thành Đại La. Dù mang danh Tiết độ sứ, ông được xem như người nối tiếp nền tự chủ mà họ Khúc đã gây dựng, đặt nền móng cho tiến trình độc lập lâu dài của dân tộc.

den-ba-trieu-2_1776916366.jpg
Đền Bà Triệu ở Thanh Hóa. Ảnh: Báo Lao Động

Bước sang thời kỳ phong kiến độc lập, Thanh Hóa trở thành nơi phát tích của nhiều triều đại. Năm 980, trước nguy cơ xâm lược của nhà Tống, tướng quân Lê Hoàn được suy tôn lên ngôi, mở ra triều Tiền Lê. Dù tồn tại không dài (980-1009), triều đại này đã góp phần quan trọng trong việc củng cố nền độc lập non trẻ của Đại Cồ Việt và đánh bại quân Tống.

Đầu thế kỷ XV, Hồ Quý Ly lập nên nhà Hồ, đặt quốc hiệu là Đại Ngu và xây dựng kinh đô tại Tây Đô (Thanh Hóa). Dù chỉ tồn tại trong 7 năm, triều đại này để lại dấu ấn với những cải cách đáng chú ý và công trình Thành nhà Hồ - một kiến trúc đá quy mô lớn, độc đáo bậc nhất khu vực Đông Nam Á.

Triều đại gắn bó sâu sắc nhất với Thanh Hóa là nhà Hậu Lê, do Lê Lợi sáng lập. Từ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn năm 1418, sau 10 năm chiến đấu, ông lên ngôi hoàng đế năm 1428, mở ra triều đại kéo dài hơn 3 thế kỷ với 26 vị vua. Đây được xem là một trong những giai đoạn phát triển rực rỡ của Đại Việt, đặc biệt dưới thời Lê Thánh Tông.

Đến thời kỳ sau, triều Nguyễn (triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam) cũng có nguồn gốc từ Thanh Hóa. Tổ tiên của vua Gia Long xuất thân từ vùng Gia Miêu (nay thuộc xã Hà Long), trước khi vào Nam lập nghiệp và xây dựng vương triều kéo dài từ năm 1802 đến 1945.

3_1776916021.png
Năm 1428, Lê Lợi lập ra nhà Hậu Lê. Ảnh minh họa

Không chỉ là quê hương của các triều đại, Thanh Hóa còn là nơi xuất phát của 2 dòng chúa Trịnh và Nguyễn - những thế lực nắm giữ thực quyền trong nhiều thế kỷ. Từ thế kỷ XVI, chúa Trịnh kiểm soát Đàng Ngoài, trong khi chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ ở Đàng Trong, góp phần định hình diện mạo lãnh thổ Việt Nam ngày nay.

Sở hữu loạt di tích lịch sử nổi tiếng

Là vùng đất gắn liền với nhiều triều đại, Thanh Hóa sở hữu hệ thống di tích lịch sử - văn hóa phong phú và đa dạng. Nổi bật trong số đó là Thành nhà Hồ, di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận. 

Công trình được xây dựng từ năm 1397 hoàn toàn bằng các khối đá lớn, trong đó có những phiến dài hơn 6m, nặng tới khoảng 20 tấn. Đây là một trong số ít thành lũy bằng đá còn tồn tại ở khu vực Đông Nam Á.

Một địa danh quan trọng khác là khu di tích Lam Kinh, gắn liền với triều Hậu Lê. Đây không chỉ là nơi thờ các vua Lê mà còn là khu lăng mộ của nhiều vị vua và hoàng hậu triều đại này. Không gian Lam Kinh kết hợp hài hòa giữa kiến trúc cổ kính và cảnh quan thiên nhiên, tạo nên vẻ trang nghiêm đặc trưng.

4_1776916147.png
Thành nhà Hồ được xây dựng năm 1397. Ảnh: Báo Dân Việt

Ngoài ra, đền Bà Triệu tại huyện Hậu Lộc (cũ) cũng là một di tích lịch sử tiêu biểu. Ngôi đền nằm trên núi Gai, thờ nữ anh hùng Triệu Thị Trinh. Hằng năm, lễ hội Bà Triệu diễn ra từ ngày 21-24/2 Âm lịch, thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương.

Từ thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm đến giai đoạn phát triển của các triều đại phong kiến, Thanh Hóa luôn giữ vai trò quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Việc có tới 44 vị vua xuất thân từ vùng đất này không chỉ là một con số đáng chú ý mà còn phản ánh chiều sâu lịch sử và văn hóa của xứ Thanh.

Ngày nay, các di tích, truyền thống và câu chuyện lịch sử vẫn hiện diện trên khắp vùng đất này, góp phần tạo nên bản sắc riêng của Thanh Hóa - vùng đất được mệnh danh là “quê vua đất chúa” của Việt Nam.

Hải Châu

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

UNESCO là gì? Việt Nam có những di sản nào được UNESCO công nhận

UNESCO là một cụm từ được nhiều người biết tới khi có chức năng công nhận các di sản văn hóa trên thế giới. Vậy, UNESCO là gì? Việt Nam đã có những di sản nào được UNESCO công nhận? Tổ chức UNESCO là gì? UNESCO là tên gọi viết tắt của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO).  UNESCO là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hợp quốc, được thành lập với mục đích "thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo" (trích Công ước thành lập UNESCO). UNESCO hiện đã có mặt trên 191 quốc gia thành viên và trụ sở chính đặt tại Pháp, với hơn 50 văn phòng và các trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới, một trong các dự án của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới. Một trong những hoạt động nổi bật của UNESCO...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...