Chuyển đến nội dung chính

Xác lập vị thế cà-phê Việt Nam

Diễn đàn Di sản cà-phê thế giới năm 2026 với chủ đề “Từ những truyền thống đa dạng đến di sản sống chung của nhân loại” là không gian đối thoại quốc tế cấp cao, làm rõ cách nhìn nhận cà-phê như một “di sản sống”, có khả năng “kết nối con người, cộng đồng, các nền văn minh”, hướng tới trở thành ngôn ngữ chung của hòa hợp, sáng tạo và phát triển bền vững.


Diễn đàn do Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk phối hợp Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Trường đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh cùng sự đồng hành của Tập đoàn Trung Nguyên Legend tổ chức vào những ngày cuối tháng 4 tại phường Buôn Ma Thuột. Thông qua diễn đàn, tỉnh Đắk Lắk giới thiệu tri thức trồng và chế biến cà-phê đến bạn bè quốc tế; quảng bá hình ảnh vùng đất và con người Tây Nguyên; thúc đẩy đối thoại đa văn hóa và nâng cao giá trị ngành cà-phê Việt Nam, từng bước xác lập vị thế trên bản đồ cà-phê thế giới.

DI SẢN CÀ-PHÊ, NHIỀU GÓC ĐỘ TIẾP CẬN

Diễn đàn nhận được gần 40 bài nghiên cứu, tham luận của các nhà khoa học, chuyên gia trong nước và quốc tế, tiếp cận cà-phê dưới nhiều góc độ, từ kinh tế, xã hội, văn hóa, di sản học đến công nghệ chế biến, chuỗi giá trị toàn cầu và phát triển bền vững. Bốn phiên thảo luận chuyên sâu đã được tổ chức với các chủ đề: “Lịch sử càphê thế giới”; “Quy trình trồng và sản xuất cà-phê”; “Văn hóa tiêu dùng toàn cầu và diễn trình phát triển của di sản cà-phê”; “Thực hành tốt trong bảo vệ và phát triển bền vững”.

Tại chuyên đề “Quy trình trồng và sản xuất cà-phê”, các thảo luận đi sâu vào hệ sinh thái trồng và sản xuất cà-phê như một chỉnh thể gắn kết giữa tri thức bản địa, cảnh quan văn hóa và sinh kế cộng đồng. Nhiều ý kiến phân tích chuỗi giá trị cà-phê toàn cầu, trách nhiệm xã hội của ngành cà-phê đối

với cộng đồng; đưa ra định hướng phát triển Đắk Lắk từ vùng nguyên liệu trọng điểm trở thành “thủ phủ" cà-phê thế giới, gắn với hành trình xây dựng cảnh quan văn hóa cà-phê Việt Nam hướng tới trở thành di sản của UNESCO và thúc đẩy hệ sinh thái cà-phê trong tiến trình chuyển đổi xanh toàn cầu.

Ở chủ đề “Văn hóa tiêu dùng toàn cầu và diễn trình phát triển của di sản cà-phê”, các diễn giả gợi mở cách tiếp cận từ góc độ văn hóa, lối sống, cách con người gặp gỡ, đối thoại và sáng tạo. Sự chuyển hóa của không gian cà-phê từ trải nghiệm tiêu dùng sang không gian văn hóa và di sản, cùng với ứng dụng công nghệ số đang góp phần định hình cà-phê như một “di sản sống” có khả năng thích ứng và lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống đương đại.

Phiên chuyên đề “Thực hành tốt trong bảo vệ và phát triển bền vững” chia sẻ những mô hình cụ thể với các thực hành tốt từ Thái Lan và cách tiếp cận của Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) về hệ thống cà-phê bền vững, hài hòa giữa sinh kế cộng đồng và môi trường. Các diễn giả làm rõ khái niệm và tiêu chí “thực hành bảo vệ tốt” theo UNESCO, nhấn mạnh vai trò trung tâm của cộng đồng trong việc gìn giữ, trao truyền và phát huy di sản; cơ hội phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng. Đồng chí Đào Mỹ, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk cho biết: Diễn đàn là hoạt động thiết thực nhằm làm rõ hơn giá trị nổi bật của di sản cà-phê trong bối cảnh toàn cầu hóa, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ di sản.

“DI SẢN SỐNG” TRONG DÒNG CHẢY TOÀN CẦU

Qua diễn đàn cho thấy, không chỉ là sản phẩm nông nghiệp hay một ngành kinh tế, càphê còn được coi như “di sản sống”, không gian văn hóa, nơi kết tinh tri thức, tập quán, lối sống và các giá trị tinh thần được cộng đồng sáng tạo, thực hành và trao truyền. Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam Jonathan Baker cho biết: “Theo Công ước năm 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, di sản không được hiểu là một vật thể hay sản phẩm, mà là tri thức, kỹ năng, tập quán xã hội và những ý nghĩa mà cộng đồng thừa nhận là một phần đời sống văn hóa của mình và trao truyền qua nhiều thế hệ”.

Lịch sử phát triển của cà-phê ngoài lịch sử của một loại cây trồng, còn là lịch sử của giao lưu, thương mại, của tri thức, sáng tạo, của khát vọng phát triển. Mỗi vùng đất, quốc gia khi tiếp nhận cà-phê đều góp phần làm giàu thêm giá trị chung bằng bản sắc riêng biệt, tạo nên hệ sinh thái văn hóa đa dạng, đặc sắc từ cà-phê và kết nối trong dòng chảy toàn cầu. Đây cũng là nền tảng để nâng tầm cà-phê trở thành di sản chung, nơi các nền văn hóa cùng tồn tại, tôn trọng và đối thoại với nhau.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam có vị trí đặc biệt, là một trong những quốc gia sản xuất, xuất khẩu cà-phê hàng đầu thế giới; nơi hội tụ những điều kiện đặc biệt để hình thành và phát triển nền văn hóa cà-phê giàu bản sắc. Tại Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, cà-phê gắn liền với hệ tri thức bản địa về trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, thưởng thức, ứng xử văn hóa và tổ chức đời sống, hội tụ những giá trị của “di sản sống”, cần tiếp tục được bảo tồn và phát huy trong đời sống hiện đại.

Tháng 3/2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã trao chứng nhận “Tri thức trồng và chế biến cà-phê Đắk Lắk” là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Việc nhận diện những giá trị nổi bật của di sản này như một chỉnh thể văn hóa sống động, có chiều sâu lịch sử, giá trị cộng đồng, mang ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Thứ trưởng Thường trực Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ nhấn mạnh: Việc giới thiệu “Tri thức trồng và chế biến cà-phê Đắk Lắk” đến quốc tế sẽ quảng bá hình ảnh vùng đất và con người Tây Nguyên, thúc đẩy đối thoại đa văn hóa, nâng cao giá trị gia tăng của ngành cà-phê Việt Nam; qua đó, từng bước xác lập vị thế của cà-phê Việt Nam trên bản đồ cà-phê thế giới

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế

Tại Việt Nam hiện đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại (Representatitive List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity) và cần được bảo vệ khẩn cấp (List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding) theo thứ tự năm công nhận mới nhất Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". ...

UNESCO là gì? Việt Nam có những di sản nào được UNESCO công nhận

UNESCO là một cụm từ được nhiều người biết tới khi có chức năng công nhận các di sản văn hóa trên thế giới. Vậy, UNESCO là gì? Việt Nam đã có những di sản nào được UNESCO công nhận? Tổ chức UNESCO là gì? UNESCO là tên gọi viết tắt của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO).  UNESCO là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hợp quốc, được thành lập với mục đích "thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo" (trích Công ước thành lập UNESCO). UNESCO hiện đã có mặt trên 191 quốc gia thành viên và trụ sở chính đặt tại Pháp, với hơn 50 văn phòng và các trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới, một trong các dự án của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới. Một trong những hoạt động nổi bật của UNESCO...

Di sản văn hóa thế giới: Phố Cổ Hội An

Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (II) (V). Hội An là một thành phố cũ thuộc tỉnh Quảng Nam cũ tại Việt Nam. Phố cổ Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, gồm những di sản kiến trúc đã có từ hàng trăm năm trước, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999. Lịch sử phát triển Phố cổ hội an Trước thế kỷ II Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I, II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú: Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiếm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3.000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2.000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh. Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thủy ...